Radio Logo
RND
Ouça {param} na aplicação
Ouça TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT na aplicação
(171.489)
Guardar rádio
Despertar
Sleeptimer
Guardar rádio
Despertar
Sleeptimer
Página inicialPodcastsNoticiário
TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT

TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT

Podcast TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT
Podcast TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT

TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT

juntar

Episódios Disponíveis

5 de 24
  • Tạp chí đặc biệt - Lobby khí hậu : Những kẻ núp bóng các “ông lớn” dầu khí để gieo rắc hoài nghi
    Hội nghị khí hâụ COP26, diễn ra tại Glasgow, Scotland, đã khép lại ngày 13/11/2021, chậm hơn một ngày, do các quốc gia không tìm được đồng thuận về vấn đề khí thải carbon, nguyên nhân chính của sự nóng lên toàn cầu. Thay vì “cắt bỏ”, lãnh đạo 196 quốc gia chỉ “giảm” lượng khí thải CO2. Mục tiêu xa vời so với đề xuất ban đầu là “loại bỏ dần than đá và các đầu tư dành cho nhiên liệu hoá thạch”. Nhưng các thất bại của sự kiện này lại chính là thành công đối với những ông lớn “vàng đen”, mà đại diện vận động hành lang của họ chưa từng vắng mặt tại bất cứ hội nghị khí hậu nào. Các nhà vận động hành lang, sử dụng chiến lược “làm sai lệch thông tin” và “gieo rắc hoài nghi về các vấn đề khí hậu”, họ được tài trợ bởi ngành công nghiệp dầu mỏ, đã nhấn chìm cuộc huy động nhằm chống lại cuộc chiến với khủng hoảng khí hậu từ nhiều thập kỷ qua. Tổ chức phi chính phủ Global Witness đã công bố ngày 08/11/2021, danh sách 503 nhà vận động hành lang, đại diện cho 100 công ty dầu mỏ và hơn 30 hiệp hội trong ngành này đã có mặt tại hội nghị COP26. Con số này đè bẹp các phái đoàn của nhiều quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi hậu quả của nóng lên toàn cầu, chẳng hạn như Cộng hòa Dân chủ Congo (373), Bangladesh (296). Phái đoàn “vận động hành lang” hay còn gọi là lobby cũng dẫn trước về số lượng, phái đoàn lớn nhất tại hội nghị như Brazil (497) hay Thổ Nhĩ Kỳ (376). Trước đó, vào tháng 10, tổ điều tra báo chí của tổ chức phi chính phủ Greenpeace tại Vương Quốc Anh đã công bố một vụ rò rỉ thông tin về vận động hành lang tại Liên Hiệp Quốc (LHQ). Các tài liệu cho thấy các quốc gia gây ô nhiễm lớn nhất như Trung Quốc, Ả Rập Xê Út và Ấn độ, đã cố gắng thay đổi báo cáo khoa học của hội đồng khoa học LHQ về cách ứng phó với biến đổi khí hậu. Báo cáo khoa học này là tài liệu cơ sở cho các lãnh đạo của các quốc gia thảo luận tại COP26, để đưa ra các cam kết quan trọng nhằm giữ cho sự nóng lên toàn cầu ở mức 1,5 độ C. Khoảng 32.000 hồ sơ đã được trình lên LHQ, kêu gọi loại bỏ những từ khoá trong báo cáo về “nhiên liệu hoá thạch" hoặc hạ thấp nhu cầu chuyển đổi sử dụng nhiên liệu hoá thạch. Trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt, từ Glasgow, bà Carine Thibault, người đại diện tại văn phòng của tổ chức phi chính phủ Greenpeace tại Bruxelles, cho biết, các chiến dịch vận động hành lang của ngành công nghiệp nhiên liệu hoá thạch tại COP26 tưởng chừng lớn, nhưng quy mô lại nhỏ hơn so với những năm gần đây. Trước kia, các tập đoàn này còn là nhà tài trợ chính cho tổ chức hội nghị, ví dụ như trường hợp ở COP24 diễn ra tại Ba Lan vào năm 2018. Bà giải thích thêm: Từ những năm 70, các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng việc tiêu thụ nhiên liệu hoá thạch, và nhất là dầu khí, đã thải ra khí CO2, làm bầu khí quyển nóng lên, và là mối đe doạ cho tất cả mọi người trên Trái đất. Cũng kể từ thời điểm đó, nhiều chiến dịch truyền thông nhằm ngăn cản các hành động về khí hậu đã xuất hiện. Các doanh nghiệp lớn về nhiên liệu hoá thạch có mặt tại các hội nghị khí hậu nhằm tác động lên các chính sách ảnh đến lợi ích thương mại của họ. Dù năm nay, họ không có mặt đông đảo như mọi năm, họ không còn có các pavillon, hay xe ô-tô tuyên truyền quảng cáo ở mọi nơi, nhưng các nhà vận động hành lang vẫn được tổ chức rất bài bản, và đổi mới chiến lược. Không có nghi ngờ gì về việc họ đã tác động đáng kể lên các đàm phán tại COP." Vận động hành lang, hay còn gọi là lobby là một hành động nhằm thuyết phục, gây tác động một cách hợp pháp đến các chính sách hay quyết định của các cơ quan quyền lực, quan chức chính phủ, hoặc nhà lập pháp. Lobby có thể là tiếp xúc trực tiếp, hoặc các hình thức gián tiếp được thực hiện không chỉ bởi các tổ chức tư nhân mà còn từ cả các hiệp hội tổ chức phi chính phủ, nhóm lợi ích, hay tất cả các chủ thể mà hoạt động của họ có thể bị ảnh hưởng bởi công luận đều phải vận động hành lang. Trong lĩnh vực năng lượng, chiến lược mà các nhà lobby sử dụng đó là “gieo giắc sự nghi ngờ” trong công luận bằng cách chất vấn tính xác thực của dữ liệu khoa học về khí hậu, đe dọa trực tiếp đến lợi nhuận của ngành công nghiệp này, đặc biệt là đến các tập đoàn năng lượng lớn nhất thế giới như ExxonMobil, Shell, BP, Total. Nói về lobby, không thể không nhắc đến vùng đất màu mỡ Bruxelles, ước tính có tới gần 30.000 nhà vận động hành lang hoạt động đặt trụ sở tại đầu não của Liên Hiệp Châu Âu. Ngược dòng lịch sử lobby khí hậu - những kẻ buôn bán sự hoài nghi Cụ thể là, năm 1988, lần đầu tiên tại Thượng Viện Mỹ, nhà nghiên cứu về môi trường, giáo sư James Hansen, đã nêu ra vấn đề Trái đất nóng lên xuất phát từ lượng khí thải carbon gây hiệu ứng nhà kính. Khi đó, nghiên cứu của ông được ủng hộ mạnh mẽ bởi lãnh đạo các cường quốc như Anh và Mỹ. Cũng trong năm 1988, LHQ đã thành lập Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (GIEC), với nhiệm vụ đánh giá rủi ro về biến đổi khí hậu do hoạt động con người gây ra. Các quốc gia lo sợ về các thảm kịch khí hậu có thể xảy đến nếu không hành động gì. Nhưng sau ba thập kỷ, cuộc chiến chống khủng hoảng khí hậu không có nhiều tiến triển. Lý do là vì đâu ? Ngay sau bài phát biểu của James Hansen, hàng loạt các phát biểu phản biện xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng, với nội dung như : “Nóng lên toàn cầu là lừa đảo, chỉ là cái cớ để tăng thuế”, “tiền dùng để giải vấn đề về khí hậu, có thể cứu đói hàng triệu người”, hay thậm chí “tăng hiệu ứng nhà kính có thể đem lại lợi ích cho kinh tế, bằng cách kéo dài thời gian mùa vụ nông nghiệp”. Một trong những phát biểu trên xuất phát từ Jerry Tailor, được gắn mác chuyên gia khí hậu bởi truyền thông Hoa Kỳ, ông là một trong những nhà lobby, được tuyển vào viện nghiên cứu Cato Institut từ cuối những năm 1990. Trong phim tài liệu điều tra về vận động hành lang khí hậu, phát sóng vào cuối tháng 10/2021 trên kênh truyền hình Arte, ông Tailor giải thích về nghề nghiệp của mình như sau : Công việc của tôi  là phát biểu trên truyền thông để phản biện lại các chính sách về khí hậu. Viện tư vấn Cato đã tuyển tôi để đánh lạc hướng dư luận, và đó là điều mà tôi đã làm. Sự đa nghi về các vấn đề khí hậu dựa trên sự truyền bá hoài nghi về khoa học. Trong các bài phát biểu của tôi, việc phản biện lại các dữ liệu khoa học là nhân tố chính. Đối với những người không có quan điểm về sự nóng lên toàn cầu, những người như tôi sẽ giải thích cho họ rằng đó không phải là vấn đề đáng lo ngại”.Tài trợ nghiên cứu hoa học để chứng minh phản khoa học Đằng sau các nhà vận động hành lang, là đội ngũ hùng hậu các nhà nghiên cứu phản bác lập luận Trái đất nóng lên là do nguyên nhân con người, họ làm việc trong các viện nghiên cứu danh giá. Thế nhưng, viện nghiên cứu Cato Institute, nơi ông Jerry Tailor làm việc, lại được đồng sáng lập bởi Charles Koch, nhà tỷ phú, CEO của tập đoàn dầu khí Koch Industries. Theo trang Exxonsecret, do tổ chức Greenpeace Hoa Kỳ quản lý, Cato Institute, cũng nhận được số tài trợ khổng lồ các ông lớn dầu khí khác như Exxonmobil và Shell. Viện  Cato Institute không phải là viện tư vấn chiến lược duy nhất làm ra các báo cáo khoa học hay có đội ngũ vận động hành lang đông đảo với nhiệm vụ “phản biện lại việc nóng lên toàn cầu là từ khí thải CO2”. Viện tư vấn Competitive Entreprise Company (CEC), một think-tank hoạt động trong lĩnh vực tương tự, chủ yếu dựa vào nguồn tài trợ bên ngoài. Tổ chức này đã từng cố vấn cho cựu tổng thống Mỹ, Donald Trump trong cuộc bầu cử năm 2016. Nhiệm vụ của họ là gieo rắc hoài nghi về “biến đổi khí hậu” và hiện tượng nóng lên toàn cầu. Theo báo Le Monde, đa số các cuộc thăm dò dư luận cho thấy cứ hai người Mỹ thì có một người không đồng ý, và còn nghi ngờ với sự đồng thuận của giới khoa học về vấn đề khí hậu. Cuối tháng 10/2021, Hạ Viện Hoa Kỳ đã cáo buộc các tập đoàn năng lượng hoá thạch về chiến dịch truyền bá thông tin sai lệch kéo dài hàng thập kỷ, liên quan đến vai trò của nhiên liệu hoá thạch gây ra sự nóng lên toàn cầu. Giám đốc điều hành của ExxonMobil, ông Daren Woods đã bác bỏ cáo buộc này tại phiên điều trần của uỷ ban điều tra Hạ Viện như sau : “ExxonMobil đã tham gia vào các cuộc thảo luận chính sách liên quan đến môi trường và năng lượng trong nhiều năm. Quan điểm của chúng tôi về các chính sách và tác động của nó lên ngành công nghiệp được dựa trên các cơ sở khoa học (sự hiểu biết của chúng tôi về khoa học). Chúng tôi đã lên tiếng và thể hiện minh bạch trong việc hỗ trợ  chính phủ các quốc gia thực hiện các chính sách hiệu quả về chi phí và đạt được mức giảm lượng khí thải lớn nhất với chi phí thấp nhất cho xã hội. " Theo AP, sự xuất hiện của bốn giám đốc điều hành  từ ExxonMobil, Chevron, BP và Shell tại Hạ Viện Hoa Kỳ đã làm ta liên tưởng đến phiên điều trần cấp cao vào những năm 1990 với giám đốc điều hành các doanh nghiệp thuốc lá, khi họ cố biện minh rằng nicotine không phải là chất gây nghiện. Chiến lược gieo rắc sự hoài nghi về minh chứng khoa học đã được các lobby của các doanh nghiệp này sử dụng trong vài thập kỷ, mãi cho đến khi các quy định hạn chế thương mại thuốc lá được ban hành.  Định hướng nghiên cứu khoa học từ khi còn trứng nước Các tập đoàn gây ô nhiễm nhất thế giới còn hành động ngay tại giảng đường, gây sức ảnh hưởng cho các viện nghiên cứu của các trường đại học danh giá nhất thế giới. Theo Bloomberg, quỹ tài trợ của Harvard, dành cho nghiên cứu về nhiên liệu hóa thạch, trị giá lên đến gần 42 tỷ đô la vào năm 2020. Và nhà tài trợ chính, không ai khác, vẫn là Exxon Mobil, một trong những ông lớn dầu khí lớn nhất thế giới. Trường đại học Stanford cũng nhận được tài trợ trị giá 22 tỷ đô la, cho nghiên cứu về năng lượng tái tạo từ các công ty khai thác than và dầu khí. Theo chuyên viên nghiên cứu tại khoa lịch sử và khoa học tại Harvard, ông Geoffrey Supran, nguồn tài trợ khổng lồ từ các công ty nhiên liệu, có thể cho phép các công ty này định hướng đề tài nghiên cứu của sinh viên. Tính minh bạch và kết quả nghiên cứu có khả năng cao sẽ bị tác động. Ông nhận định về vụ việc như sau : Các thể chế, mà đáng lẽ ra phải tìm ra giải pháp cho khủng hoảng khí hậu, lại bị phụ thuộc tài chính vào ngành công nghiệp bị de doạ lớn nhất từ các kết quả nghiên cứu, chúng ta có thể thấy ở đó một cuộc xung đột lợi ích. Không chắc chắn được là các kết quả nghiên cứu kia sẽ có lợi cho ai. Chính vì thế mà các nghiên cứu y khoa bị bắt buộc tuân theo khuôn khổ quy tắc và đạo tức nghề nghiệp, các nhà nghiên cứu y khoa phải công khai xung đột lợi ích. Về năng lượng và khí hậu, không có quy định rõ ràng về việc này Trong nghiên cứu nói chung, xung đột lợi ích xảy ra khi các thành viên tham gia nghiên cứu, hoặc những người có thể ảnh hưởng đến kết quả của nghiên cứu, có thể được hưởng lợi về tài chính, hoặc có được lợi ích không chính đáng. Cựu sinh viên trường Harvard, ông  Supran đã đồng nghiên cứu cùng nhà khoa học khí hậu Naomi Oreskes, công bố một loạt các nghiên cứu về chiến thuật truyền thông khí hậu mà các các tập đoàn dầu khí lớn nhất thế giới sử dụng. Theo đó, ngoài việc đưa ra các thông tin sai lệch hoàn toàn, các công ty này, trong đó có ExxeonMobil, đổi mới chiến thuật của họ. Từ việc chối bỏ hoàn toàn một cách trắng trợn sự nóng lên toàn cầu đến các hình thức vận động hành lang và tuyên truyền tinh vi hơn.   Mục tiêu chấm dứt các hành động hướng đến loại bỏ khí thải carbon Trong phỏng vấn với tờ Harvard Gazette, ông Supran khẳng định rằng mục tiêu cuối cùng của họ vẫn không đổi, đó là chấm dứt các hành động loại bỏ khí thải carbon. Ông lo ngại rằng chiến lược của họ ngày càng tinh vi hơn. Trong đó có chiến lược “tẩy xanh” (greenwashing) hay còn gọi là "treo đầu dê bán thịt chó". Theo báo Guardian, các ông lớn vàng đen đầu tư vào năng lượng tái tạo, tạo dựng thương hiệu “xanh”, hay các cam kết “bù nhìn” về nghiên cứu nhiên liệu sinh học và cả việc ủng hộ “trá hình” việc tăng thuế carbon rồi sau lưng, kêu gọi lobby phản đối thuế carbon. Một ví dụ điển hình về greenwashing, đó là lượng khí thải carbon cá nhân (carbon footprint), thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các cuộc hội thảo về trách nhiệm mỗi cá nhân trong việc tạo ra khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Thế nhưng, ít ai biết rằng, thuật ngữ này lần được tiên được tuyên truyền phổ biến trong một chiến dịch truyền thông từ năm 2004-2006 của tập đoàn dầu khí BP, trị giá 100 triệu đô la mỗi năm. Theo báo cáo của tổ chức phi chính phủ InfluenceMap của Anh, chịu trách nhiệm theo dõi hành động ảnh hưởng của doanh nghiệp năm 2019, kể từ sau khi thỏa thuận Paris được ký kết, 5 tập đoàn năng lượng lớn nhất thế giới, đã chi gần 1 tỷ đô la cho vận động hành lang, bảo vệ lợi ích của họ về nhiên liệu hoá thạch.
    11/20/2021
    9:32
  • Tạp chí đặc biệt - Trung Quốc: Cúp điện gây xáo trộn công nghiệp và đời sống
    Tại Trung Quốc, nạn cúp điện gây xáo trộn ngành công nghiệp và đời sống người dân ; Cựu thủ tướng Úc chỉ trích người kế nhiệm về vụ khủng hoảng tàu ngầm với Pháp ; Tại Anh Quốc, các y tá lo ngại không đi làm được do tình trạng khan hiếm xăng ; Các cơ quan tình báo Nga bị cáo buộc đã có hành động khủng bố nhắm vào các kho đạn ở những nước khác ; Người dân Afghanistan khốn khổ vì nạn khan hiếm tiền mặt. Đó là những sự kiện và vấn đề đáng chú ý trong tạp chí Thế Giới Đó Đây tuần này.  Trung Quốc : Cúp điện gây xáo trộn công nghiệp và đời sống  Do lượng than đá ngày càng ít, do việc áp dụng các tiêu chuẩn gắt gao về môi trường, do các nhà máy chạy hết công suất, nhiều thành phố lớn ở miền bắc Trung Quốc đang bị những vụ cúp điện thường xuyên, gây xáo trộn cho ngành công nghiệp và đời sống người dân, thậm chí có thể làm chậm lại tăng trưởng kinh tế của nước này. Từ Bắc Kinh, thông tín viên Stéphane Lagarde gởi về bài tường trình ngày 28/09:  “Trên các mạng xã hội, người ta than phiền về nạn kẹt xe: ở miền bắc Trung Quốc, các vụ cúp điện trong những ngày qua đã gây hỗn loạn trên các trục lộ. Các hình ảnh được phát trên mạng Sina Weibo cho thấy những cột đèn đỏ ngừng hoạt động, nhất là trong cuối tuần qua, trên các đại lộ của thành phố Thẩm Dương, thủ phủ tỉnh Liêu Ninh. Người dân ở đây đã không được thông báo trước về các vụ cúp điện này.  Ở miền nam Trung Quốc cũng có nguy cơ bị cúp điện, nhất là ở tỉnh Quảng Đông, nơi mà người dân được khuyến cáo hạn chế sử dụng máy lạnh, nên đi thang bộ hơn là thang máy, đồng thời đi ngủ vào lúc trăng mọc. Các vụ cúp điện đang làm chậm lại các dây chuyền lắp ráp tại “công xưởng của thế giới”  và đe dọa đến chuỗi cung ứng toàn cầu. Báo chí nhà nước cho biết khoảng 100 nhà máy phải đóng cửa đến ngày 7/10, ngày kết thúc kỳ nghỉ lễ quốc khánh Trung Quốc. Có nhiều lý do giải thích tình trạng này, trong đó có việc tăng giá than đá, một phần do khủng hoảng Úc-Trung và do việc Trung Quốc ngưng nhập than đá của Úc.”  “Khủng hoảng tàu ngầm”: Khi cựu thủ tướng Úc chỉ trích người kế nhiệm Trong vụ khủng hoảng tàu ngầm, do việc chính phủ Úc hủy bỏ “hợp đồng thế kỷ” với Pháp để quay sang mua tàu ngầm của Mỹ, cho tới nay cựu thủ tướng Malcolm Turnbull vẫn im lặng. Chính ông là người vào năm 2016 đã ký hợp đồng đó với nước Pháp, đã tiếp tổng thống Emmanuel Macron ở Sydney năm 2018, trong một chuyến đi mà nguyên thủ quốc gia Pháp đã gọi liên minh với nước Úc là trụ cột chiến lược của ông về vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương. Hôm thứ tư, 29/09/2021, ông Turnbull công khai chỉ trích thủ tướng Scott Morrison là đã “cố tình đánh lừa” Paris khi hủy bỏ hợp đồng tàu ngầm với Pháp. Người tiền nhiệm của ông Morrison cho rằng hành động của lãnh đạo chính phủ hiện nay sẽ gây những hậu quả lâu dài cho hình ảnh của Úc trên trường quốc tế. Từ Sydney, thông tín viên Grégory Plesse gởi về bài tường trình ngày 29/09/2021: “Tuy xuất thân cùng một chính đảng nhưng Scott Morrison et Malcolm Turnbull lại có quan điểm hoàn toàn đối lập với nhau về mọi chủ đề.  Ông Turnbull hôm nay đã chứng tỏ điều đó, khi đặt lại vấn đề về sự cần thiết của việc trang bị tàu ngầm nguyên tử cho nước Úc, trong khi Úc lại chưa có một ngành công nghiệp hạt nhân dân sự. Nhưng chính cách ông Morrison đối xử với Pháp đã bị ông Turnbull lên án trong bài phát biểu tại Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia. Bởi vì theo ông, không chỉ có quan hệ với Pháp, mà những phương pháp như vậy có thể sẽ gây tổn hại lâu dài cho hình ảnh của nước Úc trên thế giới. Ông Turnbull nói: “Chính phủ Úc đã xem thường nước Pháp. Người ta sẽ không quên điều đó. Mỗi khi chúng ta tìm cách đạt sự tin cậy của một nước khác, họ sẽ tự hỏi mình có nhớ họ đã làm gì với Macron không? Nếu họ đã đối xử với Pháp như vậy, đối với mình họ sẽ làm gì?” Trong bối cảnh mà nước Úc sẽ tổ chức bầu cử Quốc Hội trễ nhất là tháng 5/2022, ông Malcolm Turnbull bồi thêm một cú vào người kế nhiệm, khi từ chối nói là ông có sẽ bỏ phiếu cho Scott Morrison hay không. Cho dù ông này từng tham gia chính phủ vào thời ông Malcolm Turnbull còn làm thủ tướng.” Anh Quốc: Y tá sợ không đi làm được vì thiếu xăng Tại Anh Quốc, cuộc khủng hoảng xăng dầu tiếp diễn đến mức chính phủ đã phải huy động quân đội tham gia cung ứng. Những người đi xe hơi đua nhau chạy đến các trạm xăng. Ngành y tế đang lo ngại là nếu tình trạng khan hiếm nhiên liệu kéo dài, một số nhân viên y tế không thể đến chỗ làm, bởi vì không tìm được xăng. Tại Luân Đôn, thông tín viên Marie Boëda đã gặp một y tá và gởi về bài tường trình ngày 28/09/2021:  “Elisabeth là y tá và trong công việc cô thường xuyên di chuyển trên đường. Cô vừa tìm được một chổ tại một trạm xăng. Cô cho biết: “Tôi làm việc ở cách đây 2 phút đi xe, nhưng tôi đã mất đến 55 phút để xếp hàng. Từ thứ sáu tuần trước tôi đã lo đi tìm xăng. Tôi làm việc cho Dịch vụ Y tế Quốc gia NHS và tôi thường đến chăm sóc cho những người lớn tuổi.” Từ 4 ngày qua, những dãy xe xếp hàng trước các trạm xăng vẫn không giảm. Người dân hoảng loạn, nên ai cũng mua xăng về trữ. Elizabeth không dấu vẻ bực bội: “Thật buồn cười, không hề có khan hiếm xăng dầu, tự mọi người hoảng sợ và dĩ nhiên điều này gây khó khăn cho việc đi làm của chúng tôi, khiến chúng tôi không thể đổ xăng được”. Từ nhiều ngày qua, các đại diện của dịch vụ y tế rất lo ngại. Công đoàn lớn nhất của dịch vụ công Unison đã yêu cầu chính phủ dành các trạm xăng cho những người làm việc trong các ngành thiết yếu. Hiệp hội các nhân viên chăm sóc tại nhà cũng có cùng quan điểm. Các nhân viên y tế phải được ưu tiên: “Chúng tôi muốn chính phủ nhìn nhận là đang có nguy cơ đối với sức khỏe và sự an toàn của người dân. Năm ngoái, những người làm công việc chăm sóc tại nhà đã phải tự may các khẩu trang, chẳng lẽ bây giờ lại bắt họ xây nhà máy lọc dầu trong vườn của họ?”  Mười công ty dầu khí vừa ký một diễn đàn chung, khẳng định là không hề có chuyện khan hiếm nhiên liệu. Theo chính phủ Anh, chính những người mua vì quá sợ nên đua nhau đổ đầy bình xăng. Chính phủ hy vọng là tình hình sẽ lắng dịu. Từ đầu tuần đến nay, họ vẫn bị chỉ trích là không có hành động gì để giải quyết khủng hoảng.”  Tình báo Nga phạm tội khủng bố?   Các cơ quan tình báo Nga phải chăng đã có hành động khủng bố nhắm vào các kho đạn ở những nước khác? Ít ra đó là kết luận của ba quốc gia : Cộng hòa Séc, Ba Lan và gần đây nhất là Ukraina. Chính quyền Kiev vừa thông báo kết luận chính cơ quan tình báo Nga đã có hành động khủng bố khi cho nổ kho đạn khổng lồ ở miền tây Ukraina cách đây 4 năm.  Từ Kiev, thông tín viên Stéphane Siohan giải thích ngày 28/09/2021:  “Vào tháng 09/2017, trong suốt 4 ngày, hàng loạt vụ nổ đã phá hủy kho đạn Kalynivka, gần Vinnytsia, miền tây Ukraina, một trong những kho đạn lớn nhất của quân đội Ukraina, vào lúc mà nước này đã có chiến tranh với Nga từ 3 năm qua ở vùng Donbass.  Hàng chục ngàn quả đạn, chủ yếu dùng để trang bị cho xe tăng, được trữ tại kho đạn này. Các vụ nổ phá hủy kho đạn không gây thương vong, nhưng khiến chính quyền phải sơ tán 30.0000 người. Đây là vụ nổ kho đạn thứ hai xảy ra trong năm đó.   Hôm thứ Hai vừa qua, ba năm sau vụ việc, chưởng lý Ukraina Iryna Venediktova thông báo là Viện công tố đã thâu thập đủ bằng chứng để chứng minh vụ nổ ở  Kalynivka là do một hành động khủng bố, mà nghi can là GRU, cơ quan tình báo quân sự Nga.  Ngành tư pháp Ukraina đã yêu cầu một sự hỗ trợ pháp lý quốc tế từ các nhà điều tra của Praha, những người  đã điều tra về vụ nổ hai kho đạn ở Cộng hòa Séc vào mùa thu 2014, khiến 2 người chết và gây khủng hoảng ngoại giao nghiêm trọng giữa Praha và Matxcơva.  Bulgari cũng đã tình nghi 6 công dân Nga đã gây ra ít nhất 4 vụ nổ, trong đó hai vụ mới nhất xảy ra năm 2015 và 2020.  Trong cả ba trường hợp, dường như những kẻ ra lệnh muốn cắt nguồn cung cấp vũ khí, đạn dược cho quân đội Ukraina.”  Khan hiếm tiền mặt tại Afghanistan Trong tuần này, cũng giống như Miến Điện, không có đại diện nào của Afghanistan được phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, mặc dù chính quyền taliban đã có yêu cầu. Như vậy là Afghanistan dưới quyền lãnh đạo của phe Hồi Giáo cực đoan vẫn còn bị cô lập trên trường quốc tế, vào lúc mà quốc gia Trung Á này ngày càng lún sâu vào nghèo khó, thậm chí nhiều người dân nay không có tiền mặt để tiêu xài. Hàng trăm người mỗi này vẫn xếp hàng nhiều tiếng đồng hồ trước các ngân hàng với hy vọng rút được ít tiền afghani, đơn vị tiền tệ của Afghanistan. Từ Kabul, thông tín viên Sonia Ghezali gởi về bài phóng sự ngày 29/09/2021: “Tại ngân hàng Azizi, Mohammad Aslam đếm xấp tiền giấy 500 afghani. Ông nói: “Cuối cùng thì tôi cũng rút được tiền sau 25 tiếng đồng hồ đứng chờ. Tôi đã đến từ 5 giờ sáng hôm qua để đưa thẻ ngân hàng cho họ và tôi vừa rút được tiền lúc 18 giờ hôm nay. Tôi đã có thể rút được 20.000 afghani. Bao nhiêu đây vẫn chưa đủ. Bây giờ khó sống quá. Một số người đến từ các tỉnh để rút tiền. Tôi yêu cầu Nhà nước Hồi Giáo phải giải quyết vấn đề này.” Mỗi người chỉ được rút tối đa số tiền tương đương với 190 euro mỗi tuần, bởi vì ở Afghanistan hiện giờ không có đủ tiền mặt.  Vẫn Mohammad Aslam thổ lộ: “ Với số tiền này, tôi sẽ trả nợ cho các cửa hàng đã cho tôi mua chịu để nuôi gia đình tôi. Trả xong nợ thì tôi chỉ còn 3.000 afghani ( khoảng 30 euro ).” Người dân xếp hàng ngay từ nửa đêm trước các ngân hàng. Một số ngủ luôn tại chỗ. Cựu chiến binh Amanullah Paikar cho biết: “Tôi muốn rút hết tiền của tôi. Ngày nào tôi cũng đến đây, bởi vì tôi muốn thu hồi toàn bộ tiền của tôi. Ai cũng sợ mất tiền của mình. Cách đây 3 năm, ngân hàng Kabul đã phá sản và khách hàng đã mất sạch tiền trong tài khoản của họ." Cũng như đa số các công chức chế độ cũ, ông đã không được trả lương từ 3 tháng qua. Nay ông chỉ còn ít tiền tiết kiệm trong ngân hàng để sống qua ngày.”
    10/2/2021
    9:11
  • Tạp chí đặc biệt - Nga, Trung không muốn Hội Đồng Bảo An ra nghị quyết về khí hậu và hòa bình
    Nga, Trung Quốc bác bỏ đề xuất Hội Đồng Bảo An ra nghị quyết về khí hậu và hòa bình. Chính sách trục xuất người tị nạn tại vùng biên giới Mỹ - Mêhicô, của chính quyền Biden, bị lên án. Anh từ chối công nhận người chích ngừa bằng vac-xin Covishield tại Ấn Độ. Khí hậu, một chủ đề chính trong những ngày vận động bầu cử Quốc Hội cuối cùng tại Đức.  Khí hậu là một chủ đề chính của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc lần thứ 76 họp tại New York tuần này. Hôm 23/09/2021, Hội Đồng Bảo An (HĐBA) có cuộc họp cấp cao đặc biệt bên lề Đại hội đồng về chủ đề khí hậu, hòa bình và an ninh. Cuộc họp do thủ tướng Irland Micheál Martin chủ trì, với tư cách chủ tịch luân phiên của Hội Đồng Bảo An. Các diễn đàn của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc dường như cho thấy đa số các quốc gia đã nhận thức được rằng đa số các thách thức chủ yếu của nhân loại trong tương lai là do biến đổi khí hậu. Đề xuất của Irland về một nghị quyết về khí hậu và an ninh được đa số các thành viên HĐBA ủng hộ, trong lúc hai thành viên thường trực có quyền phủ quyết phản đối. Thông tín viên Carrie Nooten tường trình từ New York : « Hồi năm ngoái, có đến 30 triệu người đã phải sơ tán do biến đổi khí hậu. Mà các biến động dân cư này, các luồng di cư này làm bất ổn nhiều khu vực rộng lớn. Đặc biệt là, trái ngược với một cuộc chiến tranh, xung đột, mỗi người có thể về nhà sau khi thỏa thuận hòa bình được ký kết, những người tị nạn do các hậu quả của khí hậu nhìn chung sẽ phải tha hương mãi mãi. Chính vì thế mà 12 trong số 15 thành viên Hội Đồng Bảo An yêu cầu Hội Đồng coi đây là một vấn đề thường trực, khi thông qua một nghị quyết có giá trị như luật quốc tế, và bổ nhiệm một đặc phái viên phụ trách tác động của khí hậu đối với hòa bình và an ninh. Đây là điều đã được thảo luận hồi tháng Hai 2021, nhưng Trung Quốc và Nga đã phản đối. Ông Benjamin Pohl, thuộc nhóm tư vấn Adelphi, chuyên về chủ đề này, nhận định : ‘‘Trong 30 năm gần đây, Hội Đồng Bảo Anh đã xử lý ngày càng nhiều hơn các chủ đề thuộc về lĩnh vực giáp ranh giữa các vấn đề chính sách quốc tế và các vấn đề chính sách quốc gia. Nga và Trung Quốc không thích. Matxcơva và Bắc Kinh muốn ít nhất cũng giới hạn việc này, không cho phép đi xa hơn’’.     Đối với ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken, chỉ riêng việc đồng ý là vấn đề này có một vị trí trong lịch trình hành động của Hội Đồng Bảo An đã là một thông điệp rõ ràng gửi đến cộng đồng quốc tế ». Về lý do phản đối của Nga, trang mạng của Liên Hiệp Quốc dẫn lời của đại diện Nga cho biết Matxcơva lo ngại có sự « trùng lặp » với vai trò của Đại hội đồng và Hội đồng Kinh tế và Xã hội - cũng làm việc về vấn đề biến đổi khí hậu. Nga cũng thể hiện coi nhẹ chủ đề khí hậu và an ninh, khi cử một đại diện cấp thấp tham gia vào cuộc họp này. Trung Quốc thể hiện thái độ đối kháng ít hơn Nga về sáng kiến này, khi thừa nhận sẵn sàng thảo luận về chủ đề này, ví dụ như « gắn bình diện khí hậu vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc », nhưng không chấp nhận việc « gắn liền vấn đề khí hậu vào tất cả các xung đột, chiến tranh ». Ngoại trưởng Ấn Độ cũng bày tỏ thái độ không ủng hộ sáng kiến nói trên khi cho rằng các biến đổi khí hậu có thể là một yếu tố làm trầm trọng thêm các xung đột, « nhưng không thể được xác định như là một nguyên nhân ». Việt Nam muốn HĐBA vào cuộc Trong cuộc họp của HĐBA hôm 23/09, Việt Nam khẳng định rõ lập trường thừa nhận mối liên hệ mật thiết giữa « biến đổi khí hậu », như một nguồn gốc « gây căng thẳng và bất ổn địa chính trị ». Việt Nam là thành viên không thường trực Hội Đồng Bảo An nhiệm kỳ 2020-2021. Phát biểu tại cuộc thảo luận, chủ tịch Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh: « Hội đồng Bảo an cần phát huy vai trò đi đầu trong nỗ lực xây dựng các cơ chế đánh giá, dự báo và cảnh báo về các nguy cơ an ninh khí hậu từ sớm, từ xa để chủ động có các chiến lược, biện pháp về ngăn ngừa, xử lý hiệu quả ». Khí hậu, chủ đề trung tâm tranh cử Quốc Hội Đức Vấn đề khí hậu cũng là chủ đề chính của trong 2 ngày cuối cùng của cuộc tranh cử Quốc Hội ở Đức. Khoảng 450 cuộc biểu tình trên khắp cả nước liên quan đến vấn đề này đã được tổ chức. Các cuộc biểu tình chủ yếu do phong trào « Fridays for future » tổ chức, phong trào bãi khóa mỗi thứ Sáu hàng tuần được khởi sự năm 2018, theo sáng kiến của nữ sinh Thụy Điển Greta Thunberg. Chính cô Greta Thunberg có mặt tại Berlin hôm qua, 23/03, trước Nghị Viện Đức. Thông điệp chính của Greta Thunberg - gửi đến những người tranh đấu và giới lãnh đạo - là giới trẻ hãy tiếp tục xuống đường để yêu cầu các lãnh đạo có các biện pháp cụ thể vì khí hậu. Tại Đức, theo nhiều dự báo, đảng Xanh vì môi trường được coi là đảng chính trị chiếm thứ ba, và sẽ có tiếng nói đáng kể trong liên minh cầm quyền mới, bất kể đảng nào thắng cử. Phóng sự của thông tín viên Anastasia Becchio gửi về từ thành phố Koln, nơi ứng cử viên thủ tướng đảng Xanh có mặt tại chỗ : « Ứng cử viên đảng Xanh Annalena Baerbock dành thời gian để vui đùa với các em nhỏ có mắt đông đảo tại điểm khởi hành của một trong các đoàn tuần hành. Trên thảm cỏ của đại học Koln, bà Annalena Baerbock được những người ủng hộ đảng Xanh đón tiếp với hàng tràng vỗ tay. Ứng cử viên đảng Xanh tuyên bố : ‘‘Mỗi sự ủng hộ dành cho các dân biểu đảng Xanh là một sự ủng hộ cho một chính phủ cam kết mạnh mẽ vì khí hậu’’. Nếu như theo các thăm dò, đảng Xanh đứng ở vị trí thứ ba, bất kể đảng nào về đầu trong cuộc bầu cử ngày Chủ Nhật, thì sẽ khó có đảng nào qua mặt được đảng Vì Sinh Thái. Iouri, một sinh viên luật, 24 tuổi, hoan hỉ về điều này : ‘‘Có thể có những thay đổi, nếu có thêm một đảng mới trong chính quyền. Các đảng Die Grünen (tức đảng Xanh) và cả đảng SPD có một cương lĩnh tốt hơn về Khí hậu. Hy vọng của tôi là họ có thể làm nên chuyện’’.  Về phần mình, ban tổ chức tuần hành, các thành viên tranh đấu của phong trào ‘‘những ngày Thứ Sáu vì Tương lai’’ (tức các cuộc bãi khóa của học sinh, theo sáng kiến của thiếu nữ Thụy Điển Greta Thunberg) nhấn mạnh là không đảng tranh cử nào có cương lĩnh đủ tham vọng để đáp ứng được các đòi hỏi của Thỏa thuận Paris vì Khí hậu… ngay cả đảng Xanh. Anh Moritz Böll, thuộc hiệp hội de Students for Future, nói : ‘‘Chúng tôi vui mừng với việc đảng Xanh chứng tỏ là họ coi đây là chủ đề nghiêm túc, nhưng chúng tôi cảm thấy thật là không thành thực, khi chương trình hành động của họ không tương ứng với Thỏa thuận Khí hậu Paris. Nhiệm vụ của chúng tôi là đưa chủ đề này ra với công luận, đến với đường phố. Sau cuộc bầu cử này, bóng sẽ ở bên sân đảng Xanh’’. Các nhà tranh đấu vì khí hậu chủ trương tiếp tục duy trì áp lực sau cuộc bầu cử Chủ Nhật này ». Anh không công nhận vac-xin Ấn sản xuất Trong lĩnh vực y tế, quan hệ Anh - Ấn căng thẳng sau khi Luân Đôn không thừa nhận vac-xin Covishield sản xuất và sử dụng phổ biến tại Ấn Độ. New Delhi lên án chính sách kỳ thị nghiêm trọng và đe dọa trả đũa. Thông tín viên Sebastian Farcis tường trình từ New Delhi : « Kể từ ngày 04/10, Vương Quốc Anh sẽ cho phép một số du khách đến đảo quốc không phải trải qua giai đoạn cách ly 10 ngày buồn chán, nếu họ đã được tiêm ngừa Covid-19. Tuy nhiên, người Ấn Độ không được hưởng quyền lợi này, cho dù họ có được tiêm chủng với vac-xin do công ty Anh AstraZeneca phát triển, với tên gọi Covishield tại Ấn Độ, được sử dụng cho 87% tổng số người đã được tiêm chủng tại quốc gia này. Phản ứng tại Ấn Độ rất dữ dội, nhiều chính trị gia Ấn Độ nói đến chính sách phân biệt chủng tộc. New Delhi lên án nghiêm khắc quyết định nói trên. Ngoại trưởng Ấn Độ Harsh Shringla phát biểu : ‘‘Covishield là một vac-xin sản xuất tại Ấn Độ, theo bản quyền của một doanh nghiệp Anh. Chúng tôi thậm chí còn sản xuất 5 triệu liều vac-xin này cho chính phủ Anh, số vac-xin đó đã được y tế Anh sử dụng. Như vậy việc không công nhận Covishield của Ấn Độ mang tính kỳ thị’’. Ấn Độ đe dọa sẽ áp dụng biện pháp tương tự, buộc các du khách Anh phải cách ly khi đến Ấn Độ (cho dù có giấy chứng nhận tiêm chủng). Trước các lên án nói trên, Luân Đôn đã có phản ứng điều chỉnh phần nào : vac-xin Covishield giờ đây được công nhận, nhưng Anh vẫn không công nhận người tiêm chủng với loại vac-xin này, nếu việc chích ngừa được tiến hành tại một cơ sở y tế Ấn Độ. Như vậy, trên thực tế, không có gì thay đổi cả, người Ấn Độ khi đến Anh vẫn bị cách ly ». Khủng hoảng tị nạn biên giới Mỹ - Mêhicô Trong những ngày gần đây, chính quyền Joe Biden tiếp tục chiến dịch trục xuất người di cư tập hợp tại cầu Del Rio, ở Texas, nối liền Mỹ và Mêhicô. Liên Hiệp Quốc lo ngại về tình hình tại biên giới Mỹ - Mêhicô, nêu khả năng vi phạm luật quốc tế. Đa số người di cư tập hợp tại đây là người Haiti, quốc gia đang chìm trong khủng hoảng, sau vụ tổng thống bị sát hại. Ngày 21/09, ít nhất 4 phi cơ đưa người di cư trở về Haiti. Tổng cộng tính đến hôm nay, 25/09, khoảng 2.000 người đã bị trục xuất về nước. Hình ảnh người Haiti bị cảnh sát biên phòng săn đuổi bằng ngựa được lưu truyền trên mạng, trong đó có hình một người Haiti vượt sông Rio Grande, khi vừa đặt chân lên bờ, bị cảnh sát đánh đập. Bản thân Nhà Trắng cũng phải thừa nhận bạo lực này là không chấp nhận được.  Thông tín viên Thomas Harms tường trình từ Houston : « Sau khi được phát đi, đoạn video đã nhận được hàng loạt lời lẽ lên án vào ngày thứ Hai này. Nữ dân biểu đảng Dân Chủ Ilhan Omar, đến Hoa Kỳ với tư cách người tị nạn Somalia, đã lên án việc xâm phạm nhân quyền trắng trợn. Khi bị chất vấn về chủ đề này, người phát ngôn của Nhà Trắng, Jen Psaki phản ứng như sau : ‘‘Chúng tôi vừa xem đoạn video này. Thật là kinh khủng khi coi. Tôi cần có thêm thông tin về chuyện này. Tuy nhiên, một con người bị đối xử phi nhân tính như vậy bất kể trong bối cảnh nào, ở biên giới của đất nước chúng ta hay nơi khác, thì đây hoàn toàn không phù hợp với chính sách của chính quyền Biden. Tôi nghĩ là không ai có thể cho rằng điều này là chấp nhận được, khi xem đoạn video này’’.  Về phần mình, bộ trưởng bộ An ninh Nội địa Mỹ Alejandro Mayorkas và Raul Ortiz, chỉ huy lực lượng Biên Phòng, làm việc lâu năm tại Del Rio, ngay lập tức bảo đảm là một cuộc điều tra nội bộ sẽ được tiến hành. Các đại diện của cộng đồng người Haiti ở hải ngoại, như chủ tịch của Hiệp hội Haiti Bridge Alliance, Guerline Jozef, ngay lập tức đã phản ứng và yêu cầu chính quyền Mỹ chấm dứt việc trục xuất. Họ khẳng định giờ đây thế giới đang nhìn vào các hành động của Hoa Kỳ ». Theo ông Olivier Richomme, giảng viên môn Văn minh Hoa Kỳ, Đại học Lyon 2, Pháp, chính quyền Biden đã « duy trì các chính sách đáng bị lên án nhất thời Donald Trump ». Thái độ của chính quyền Biden đối với chủ đề nhập cư mang lại một thông điệp rất xấu đối với cử tri đảng Dân Chủ, có thể ảnh hưởng lớn đến kết quả bầu cử Hạ Viện giữa kỳ, diễn ra vào cuối năm 2022. Theo ông Olivier Richomme, vì lý do này, nhiều chính trị gia Dân Chủ lên án dữ dội tổng thống Biden.
    9/25/2021
    9:37
  • Tạp chí đặc biệt - Chiến tranh Đông Dương : Vị đắng ngày trở về
    Sức mạnh quân sự -nếu có, và sức mạnh tài chính không đủ đem lại chiến thắng. Paris không còn khả năng giữ thuộc địa Đông Dương. Sau trận Điện Biên Phủ, hiệp định Genève tháng 7/1954 và chính thức là đến 1956, toàn bộ binh sĩ Pháp đã rời khỏi Đông Dương với vị đắng trong ngày trở về. 1945-1954, hơn 280.000 quân nhân Pháp thuộc các binh chủng Bộ Binh, Không Quân và Hải Quân đã hiện diện trên chiến trường Đông Dương. Ngày trở về họ đã được tiếp đón như thế nào và sau một cuộc chiến gần 10 năm, còn đọng lại gì từ những đợt hành quân ở Viễn Đông ? Trong phần chót loạt bài về chiến tranh Đông Dương 1945-1954 dành cho RFI Việt ngữ, nhà sử học Michel Bodin nhấn mạnh đến sự thất vọng của những người lính Pháp thua trận trở về. Bất mãn lại càng lớn trước sự thờ ơ của công luận Pháp, nhất là khi họ nhận thấy rằng những người lính được điều sang Đông Dương chỉ là những con cờ trong tay các phe nhóm chính trị tại Paris. Theo thống kê được cập nhật của quân đội Pháp, đã có trên dưới 110.000 quân nhân tử trận tại Đông Dương trong đó có khoảng 23.000 người Pháp, 8.000 lính Lê dương, hơn 16.000 lính châu Phi (Bắc Phi và Hạ Sahara) cùng với lính bản địa … Để so sánh, các tài liệu của Pháp đưa ra con số từ 350.000 đến 500.000 thương vong trong hàng ngũ đối phương. Sau trận Điện Biên Phủ và cho đến năm 1956, những người lính cuối cùng của Lực Lượng Viễn Chinh Pháp rời Đông Dương. Tuy nhiên, nhà sử học Michel Bodin trong các công trình nghiên cứu nói đến « những đợt trở về », bởi vì trong số gần nửa triệu quân nhân được điều sang Đông Dương từ năm 1945 đến 1954, thời gian phục vụ trung bình là khoảng 2 năm, một số đã trở về, để rồi không ít người trong số đó đã tình nguyện quay lại Viễn Đông. Hơn nữa, mỗi đợt và đối với mỗi cá nhân, ngày trở về luôn là những kinh nghiệm khác nhau. RFI : Những người còn sống sót trong số trên 183.000 lính Bắc Phi và trong vùng Hạ Sahara từ chiến trận trở về nguyên quán thường được đón tiếp trong tiếng kèn, tiếng nhạc. Trái lại, những người lính Pháp khi đặt chân đến cảng Marseille thường vấp phải thái độ thù nghịch của một phần dân chúng, hay khá hơn là sự lạnh nhạt của công luận Pháp. Kính chào giáo sư Michel Bodin, cảm ơn ông trở lại với chương trình của RFI tiếng Việt. Trước hết, xin giáo sư đề cập đến hành trình của những người lính Viễn Chinh khi rời khỏi Đông Dương. Michel Bodin : « Khoảng 90 % các quân nhân trở về bằng đường thủy. Chiếc tàu nổi tiếng mang tên Pasteur được huy động để đưa những người lính phục vụ tại Đông Dương trong thời gian từ 24 đến 29 tháng về nước. Tàu được trang bị hai bệnh viện để điều trị cho thương binh. Những trường hợp bị nặng lắm thì mới được hồi hương bằng đường hàng không. Những người lính từ chiến trận trở về này được đón tiếp nhiều cách khác nhau : Từ năm 1947 trở đi, có nhiều đoàn thể do đảng Cộng Sản Pháp và công đoàn CGT huy động ra tận cảng Marseille chẳng hạn để phản đối chính sách của Pháp ở Đông Dương, nhưng lại nhắm vào các chiến binh. Các vụ tập hợp này căng thẳng đến nỗi chính phủ phải huy động cảnh sát để bảo vệ các quân nhân. Người ta hò hét, thóa mạ, phỉ nhổ, ném bù loong vào những người lính từ Đông Dương trở về. Trái lại lính Phi châu khi trở về nguyên quán thì được đón tiếp nồng hậu, trong tiếng kèn, tiếng nhạc… Do vậy có không ít các quân nhân Pháp khi đặt chân lên đất liền, họ chỉ muốn cãi lời cấp trên, lao ra so găng với người biểu tình gọi những người lính Đông Dương là lực lượng bán quân sự của Đức Quốc Xã ». Chiến tranh Algeri phát sinh từ ruộng đồng Đông Dương RFI : Trong các đợt trở về cuối cùng, tức là sau trận Điện Biên Phủ và cho đến năm 1956 thì sự cay đắng, nếu không muốn nói là sự hận thù, của những người lính này lại càng hằn sâu hơn nữa. Tuy nhiên, điều bất ngờ là tâm trạng hận thù đó không chỉ nhắm vào kẻ thù, tức là bên Việt Minh, bởi trong số hàng trăm nhân chứng trực tiếp mà giáo sư đã tiếp xúc dường như một số ít có cái nhìn tiêu cực về Đông Dương. Vậy thì sau những năm tháng chinh chiến, còn đọng lại gì nơi những người lính thuộc Lực Lượng Viễn Chinh Pháp ? Michel Bodin :  « Còn đọng lại đôi ba nét có khi trái ngược hẳn với nhau. Các chiến binh giữ lại kỷ niệm đẹp về phong cảnh của Đông Dương, về hình ảnh người đàn bà Đông Dương, về những bữa cơm ở nơi này. Với nhiều nhân chứng như thể là hàng chục năm sau, những hình ảnh, những hương vị của Đông Dương vẫn còn đọng lại qua ánh mắt, trên làn da của những người lính này. Nhưng bên cạnh đó thì đây cũng là một cuộc chiến khốc liệt. Cuộc chiến nào cũng khốc liệt cả, nhưng tại Đông Dương, các chiến binh đã trông thấy nhiều cảnh tượng khủng khiếp : họ tận mắt chứng kiến những cảnh tra tấn, những gia đình bị chôn trong các ổ kiến lửa, hay hình ảnh đồng đội bị tàn sát và có thể là chính họ đã nhúng tay vào những vụ khủng khiếp đó. Điều thứ ba đọng lại nơi những người lính này là khi trở về họ thực sự cảm thấy bị xúc phạm vì thái độ của công luận Pháp. Ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn của chiến tranh, Sài Gòn hay Hà Nội vẫn tràn đầy nhựa sống. Trái lại, người Pháp ở trên ngay quê hương họ lúc nào cũng buồn tẻ, lạnh nhạt. Trong số rất nhiều những nhân chứng trực tiếp tôi có dịp tiếp xúc, chỉ có một vài người nói là họ không thích nghĩ về quãng thời gian ở Đông Dương. "Một số quân nhân có suy nghĩ sâu xa, thì họ ghê tởm chính giới ở Pháp (...) đã đem con bỏ chợ, phó mặc những người lính ở Đông Dương". Một điểm rất quan trọng khác là một số quân nhân có suy nghĩ sâu xa thì ghê tởm chính giới ở Pháp. Theo họ, chính phủ đã đem con bỏ chợ, phó mặc cho họ ở Đông Dương. Các quân nhân Pháp cũng chán ngán không kém khi nhận thấy rằng một trận bóng đá hay vòng đua xe đạp Tour de France thu hút chú ý nhiều hơn là tình hình ở Đông Dương, nơi những người lính Pháp đang chiến đấu. Cũng có người oán hận đảng Cộng Sản đã đồng ý điều quân sang Đông Dương để rồi quay sang ủng hộ Việt Minh. Thậm chí một số nhân chứng còn giải thích với chúng tôi rằng, đảng Cộng Sản Pháp đã phá hoại những thiết bị mà Pháp gửi sang Đông Dương để hỗ trợ các chiến binh. Từ sự bất mãn đó nảy sinh tinh thần nổi loạn và đây là điều hết sức quan trọng giải thích về những diễn biến sau này trong cuộc chiến ở Algeri. Sẽ không thể hiểu được thái độ của giới quân nhân Pháp tại Algeri nếu như chúng ta bỏ qua những gì từng xảy ra tại Đông Dương. Nói cách khác, sự nổi loạn trong hàng ngũ quân đội Pháp tại Algeri phát sinh từ những ruộng lúa ở Đông Dương ». RFI : Giáo sư muốn nói đến một sự rạn nứt trong giới quân nhân đối với chính giới của Pháp ?    Michel Bodin : « Họ không được chính giới Pháp hỗ trợ, bởi vì Pháp vẫn cứ tưởng còn là cường quốc, đủ sức đối phó với mọi mặt, từ trên mặt trận châu Âu trước mối đe dọa quân sự của Liên Xô, đến việc duy trì sự hiện diện cả tại châu Phi lẫn Đông Dương. Nhưng thực tế cho thấy, chiến tranh Đông Dương vượt ngoài khả năng của nước Pháp. Bằng chứng là đến cuối cuộc chiến này, năm 1954, thì 85 % ngân sách quân sự của Pháp do phía Hoa Kỳ đài thọ » . Điện Biên Phủ xuất phát từ thất bại chính trị của Paris RFI : Một số rạn nứt trong nội bộ quân đội Pháp bắt nguồn từ những « phương tiện eo hẹp » của Lực Lượng Viễn Chinh, « từ những thiếu thốn về trang thiết bị, từ những phương tiện chiến đấu không phù hợp với địa hình ở Đông Dương, từ những sai lầm về chiến thuật » (Les combattants français face à la guerre d’Indochine 1945-1954 – Các chiến binh Pháp đối mặt với chiến tranh Đông Dương -1945-1954 tr. 252-253). Sức mạnh về quân sự -nếu có, về tài chính không đủ để đem lại chiến thắng. Tháng 5 rồi tháng 7/1954 những hình ảnh Điện Biên Phủ còn chưa nhòa, thì Pháp đã phải dồn hết nỗ lực quân sự sang một mặt trận mới là Algeri. Chiến tranh Đông Dương đã ảnh hưởng như thế nào đến cuộc chiến đòi độc lập của người dân Algeri – Bắc Phi ? Ảnh hưởng đến mức độ nào đối với làn sóng phi thực dân hóa ở nhiều nước châu Phi ? Michel Bodin : « Vấn đề chủ yếu đặt ra cho Bắc Phi, bởi thực sự ra Đông Dương không ảnh hưởng gì đến khu vực châu Phi Hạ Sahara cả. Ngay từ năm 1950 những phong trào dân tộc chủ nghĩa ở Tunisia, hay Maroc bắt đầu được hình thành. Mãi đến năm 1954 Algeri không mấy quan tâm đến những chuyển biến tại Đông Dương. Thực ra thì những người lính Maroc hay Tunisia tham chiến trong hàng ngũ của Pháp họ cũng chỉ sợ là bị điều động để cầm súng bảo vệ quyền lợi của Pháp trên quê hương họ mà thôi. Và số này đã tuyên bố rõ ràng là họ sẵn sàng chiến đấu ở bất kỳ một mặt trận nào, ngoại trừ ở ngay trên quê hương họ. Riêng trong trường hợp của Algeri, đúng là đã có một vài sự cố xảy ra giữa các quân nhân Algeri với cấp trên, nhưng đó chỉ là một vài ngoại lệ. Chỉ biết rằng, theo những báo cáo của bên quân đội Pháp, tác động từ các chiến dịch ‘địch vận’ của Việt Minh đối với binh sĩ các nước thuộc địa không nhiều. Ảnh hướng đối với những người lính châu Phi rất hạn hẹp. Nói cách khác, tác động của các chiến dịch tuyên truyền không ảnh hưởng nhiều đến giới quân nhân từ những xứ thuộc địa của Pháp. Tôi không muốn nói là cuộc chiến Đông Dương không ảnh hưởng gì đến các phong trào đấu tranh đòi độc lập ở các xứ thuộc địa. Tôi cũng không muốn nói là các nhà lãnh đạo ở những xứ này gạt bỏ ngoài tai chuyển biến ở Đông Dương. Rất có thể là Điện Biên Phủ đã châm ngòi cho cuộc nổi dậy vũ trang tại Algeri tháng 11 năm 1954. Nhưng các tài liệu lưu trữ cho thấy đa số những người lính ở khu vực Hạ Sahara từ Đông Dương trở về vẫn trung thành với đơn vị trong quân ngũ và cũng không mấy ai đào ngũ để đứng về phía các nhóm nổi dậy. Đó là bài học lớn, trừ phi các tài liệu lưu trữ sau này đem lại cho chúng ta những thông tin khác ». "Những người lính Đông Dương bị đẩy vào một chiến dịch đầy gian nan trong những điều kiện tệ hại nhất" RFI : Chân thành cảm ơn giáo sư Michel Bodin, chuyên gia về lịch sử quân đội Đông Dương đã trở lại với sự hình thành của Lực Lượng Viễn Chinh Pháp, với chân dung những người lính từng « tham gia vào những chiến dịch đầy gian nan, trong những điều kiện tệ hại nhất ». Trong khi ở phía bên kia, « quyết tâm của đối phương không hề suy suyển, lực lượng của họ càng lúc càng đông, và ngày càng được trang bị nhiều vũ khí ». « Bị suy yếu sau Thế Chiến Thứ Hai liệu rằng Pháp có phương tiện duy trì Đông Dương hay không ? Và liệu rằng nước Pháp có sẵn sàng để chấp nhận một số hy sinh vì một vùng thuộc địa xa xôi hay không ? » (La France et ses soldats, Indochine, 1945-1954 – Pháp và những người lính, Đông Dương 1945-1954, tr.7-8). ***** * Sách vài tài liệu tham khảo : - La France et ses soldats, Indochine,  1945-1954 – Pháp và những người lính, Đông Dương 1945-1954 - NBX L’Harmattan (1996). - Soldats d’Indochine 1945-1954 – Lính Đông Dương 1945-1954 - NBX L’Harmattan NBX L’Harmattan (1997). - Les combattants français face à la guerre d’Indochine 1945-1954 – Các chiến binh Pháp đối mặt với chiến tranh Đông Dương -1945-1954, NBX L’Harmattan (1998). - Les Africains dans la guerre d’Indochine 1947-1954 – Châu Phi trong chiến tranh Đông Dương 1947-1954, NBX L’Harmattan (2000). - Le Corps Expéditionnaire Français en Indochine, 1945-1954, le soldat des forces terrestres – Lực Lượng Viễn Chinh Pháp tại Đông Dương, 1945-1954, lính bộ binh (Luận án tiến sĩ đại học Paris I-Panthéon-Sorbonne, 1991).
    9/18/2021
    10:28
  • Tạp chí đặc biệt - Thánh chiến Hồi Giáo hoán thân đổi xác
    20 năm săn lùng Al Qaeda, thế giới vẫn phải chung sống với đe dọa khủng bố. Hai tuần lễ trước ngày Hoa Kỳ tưởng niệm loạt tấn công 11/09/2001, 13 lính Mỹ và cả trăm người Afghanistan thiệt mạng trong vụ khủng bố gần phi trường Kabul.   Đó là dấu hiệu rõ rệt nhất cho thấy mục tiêu diệt trừ khủng bố tận gốc rễ là điều không tưởng và « cuộc chiến toàn diện » được khởi động cách nay hai thập niên không cho phép vô hiệu hóa các nhóm thánh chiến Hồi Giáo. « Cuộc săn lùng thủ phạm những hành vi ác độc này đã mở màn. Chúng ta sẽ không phân biệt quân khủng bố với những ai che chở cho chúng ». Đêm 11/09/2001 từ Nhà Trắng tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush đã tuyên chiến với quân khủng bố. Đây là lần thứ ba ông phát biểu trong ngày. Trước đó vài giờ, thành phố New York bị tấn công. Trung tâm tài chính của siêu cường số 1 thế giới rơi vào cảnh hoảng loạn. Một lớp khói, tro bụi phủ kín một phần lớn đảo Manhattan. Sáng Thứ Ba, 11/09/2001, trong chưa đầy 20 phút, 8 giờ 46 phút rồi 9 giờ 3 phút, hai chiếc máy bay lao thẳng vào tòa tháp đôi khu World Trade Center, New York. Nửa tiếng sau đó một chiếc máy bay thứ ba với 64 hành khách và phi hành đoàn đâm vào bộ Quốc Phòng Mỹ. 10 giờ 6 phút, chiếc máy bay thứ tư rơi tại bang Pennsylvania, cách thủ đô Washington chưa đầy nửa giờ bay. Tại New York, 9 giờ 59 phút và 10 giờ 28 phút, hai tòa tháp đôi tháp South và North Tower sụp đổ, chôn sống hàng ngàn nạn nhân. Trong chưa đầy 90 phút buổi sáng hôm đó, xảy ra bốn vụ cướp máy bay : đó là bốn vụ khủng bố tự sát do 19 tên không tặc tiến hành, 2.977 người thiệt mạng trong ngày 11/09/2001. Trước ống kính truyền hình của cả thế giới tổng thống George W. Bush nói đến một « thời khắc khó khăn mà Hoa Kỳ phải đối mặt » và khẳng định ngay là sẽ « không dung thứ cho những kẻ khủng bố », « đã tấn công vào Tự Do ». Thông điệp của Nhà Trắng rất rõ ràng : « Những giá trị của Tự Do sẽ được bảo vệ ». Cùng ngày 11/09/2001, truyền thông Hoa Kỳ đã đích danh nêu tên thủ phạm : Oussama Ben Laden. Ngày 07/10/2001 Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc bật đèn xanh cho Washington can thiệp vào Afghanistan, nơi mà dưới sự bảo trợ của phong trào Hồi Giáo cực đoan Taliban, thủ lĩnh Al Qaeda, Oussama Ben Laden và đồng lõa đã lên kế hoạch tấn công vào những biểu tượng của sức mạnh Hoa Kỳ, vào biểu tượng của thế giới tự do. Mỹ dẫn đầu chiến dịch « Tự Do Kiên Định – Enduring Freedom ». Dưới chính quyền Bush « War on Terrorism », « War on Terror » hay « Global War on Terror », là những tên gọi khác nhau trong các chiến dịch quân sự khởi động hồi tháng 10/2001. Mặt trận đầu tiên là Afghanistan. Mỹ trong tầm ngắm của Al Qaeda Trả lời đài RFI tiếng Việt, Marc Hecker giám đốc Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI, đồng tác giả cuốn La Guerre de vingt ans. Djihadisme et contre-terrorisme au XXIe siècle – Cuộc chiến 20 năm. Thánh Chiến và chống khủng bố thế kỷ XXI. NXB Robert Laffont (2021), nhắc lại về lai lịch Al Qaeda.  Marc Hecker : « Al Qaeda là một nhóm khủng bố thánh chiến được hình thành từ cuối thập niên 1980 với những thành phần xuất thân từ hàng ngũ djihad ở Afghanistan đánh đuổi quân Liên Xô khỏi quốc gia Nam Á này. Đến những năm 1990 Al Qaeda thực sự nhắm vào Hoa Kỳ. Năm 1996 lãnh đạo Al Qaeda là Oussam Ben Laden. Ông này là một công dân Ả Rập Xê Út, chứ không phải là người Afghanistan, đã công khai tuyên bố tiến hành thánh chiến chống Mỹ. Nhóm khủng bố Hồi giáo này mở nhiều đợt tấn công nhắm vào các quyền lợi của Hoa Kỳ : 1998 tòa đại sứ Mỹ ở thủ đô Nairobi – Kenya, sứ quán Hoa Kỳ ở Tanzania bị khủng bố tấn công. Hai năm sau, tàu chiến của Mỹ trong vùng biển Yemen là mục tiêu bị nhắm tới. Đương nhiên, ngoạn mục nhất là loạt tấn công 11 tháng 9 năm 2001 ngay trên lãnh thổ Hoa Kỳ, siêu cường số 1 thế giới. Al Qaeda ra tay cùng một lúc nhắm vào biểu tượng tài chính là khu Thương Mại Thế Giới World Trade Center ở New York, vào trung tâm quyền lực quân sự là Lầu Năm Góc, và rất có thể là vào biểu tượng chính trị của nền dân chủ Hoa Kỳ là tòa nhà Quốc Hội Capitol. Nhưng nhờ nhiều hành khách can thiệp, chiếc máy bay thứ tư này đã rơi trên một cánh đồng trước khi nhắm trúng mục tiêu ». Tấn công Afghanistan Do vậy mặt trận đầu tiên trong cuộc chiến chống khủng bố phải là Afghanistan. Marc Hecker giải thích tiếp. Marc Hecker : « Sau loạt tấn công 11 tháng 9, Hoa Kỳ tuyên bố mở cuộc chiến toàn diện chống khủng bố. Mục tiêu chính là diệt trừ Al Qaeda. Afghanistan là mặt trận đầu tiên, do đây là nơi trùm khủng bố Oussama Ben Laden chọn làm cứ điểm và ông này được Taliban che chở. Al Qaeda đã lập nhiều trại huấn luyện trên lãnh thổ Afghanistan. Tháng 10/2001 Mỹ bắt đầu tấn công, gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng cho Al Qaeda : tất cả các trại đào tạo chiến binh djihad đều bị phá hủy, hàng ngũ của Taliban tan tác. Phong trào Hồi Giáo cực đoan này bị lật đổ năm 2001. 80 % chiến binh Al Qaeda bị vô hiệu hóa : số thì bị bắt, một số khác bị thương, hoặc tử vong. Các thủ lĩnh của Al Qaeda phải bỏ chạy khỏi Afghanistan, trốn chui trốn nhủi. Điều đó không cấm cản năm 2011 Ben Laden bị giết chết. Nhưng từ trước khi Ben Laden bị tiêu diệt, nhóm khủng bố này đã cải tổ lại cơ cấu theo hai hướng chính để tiếp tục tồn tại : Một là bám sâu vào từng khu vực địa lý, gây dựng những chi nhánh tùy theo từng vùng. Chi nhánh ở Irak được hình thành năm 2004 ; ở Bắc Phi là quãng 2006-2007, rồi ở vùng bán đảo Ả  Rập vào năm 2009… Đương nhiên là Al Qaeda vẫn duy trì căn cứ tại Nam Á, tức là Afghanistan. Hướng phát triển thứ nhì của Al Qaeda là đầu tư nhiều vào các chiến dịch tuyên truyền ở quy mô quốc tế. Ý tưởng ở đây là kêu gọi những người Hồi giáo ở khắp mọi nơi tham gia thánh chiến, tham gia các hoạt động khủng bố, nhắm vào an ninh của các nước phương Tây. Để đạt mục đích này, Al Qaeda phổ biến những cẩm nang hướng dẫn những người bình thường ra tay, tiến hành các vụ khủng bố. Hình thức này đã khá phổ biến và đã dẫn tới những vụ tấn công thường được gọi là từ những “con sói đơn lẻ”. Như vậy những thủ phạm không nhất thiết phải là những chiến binh với nhiều kinh nghiệm hay có liên hệ trực tiếp với các đường dây khủng bố ». Sau Hoa Kỳ, trong hai thập niên qua, các tổ chức thánh chiến Hồi Giáo đã gieo rắc kinh hoàng khắp năm châu, từ Ấn Độ tới Indonesia, từ Somalie đến Maroc, hay Ai Cập, tại châu Âu thì các vụ tấn công ở Luân Đôn, Paris hay Madrid, Frankfurt khiến công luận bàng hoàng. Ngay cả những quốc gia thanh bình như Thụy Điển ở Bắc Âu hay New Zealand mãi tận bên kia bán cầu cũng không được bình yên. Trên đài RFI Việt ngữ Marc Hecker đồng tác giả cuốn sách vừa cho ra mắt độc giả Pháp, Cuộc chiến 20 năm. Thánh Chiến và chống khủng bố thế kỷ XXI giải thích về sức kháng cự đó trước liên minh quốc tế hàng ngàn tỷ đô la mà phương Tây đã liên tục đổ vào trên dưới 80 mặt trận chống thánh chiến khác nhau trên địa cầu, từ Syria đến Somalia. Marc Hecker : « Các nhóm khủng bố đó vẫn tồn tại và vẫn hoạt động rải rác khắp nơi với mức độ nguy hiểm tùy theo từng vùng, tùy theo khả năng kháng cự trước những chiến dịch chống khủng bố của cộng đồng quốc tế. Sự thực là không một nơi nào trên thế giới có thể khẳng định là đã hoàn toàn diệt trừ khủng bố. Tại một số khu vực như ở vùng Sahel trải rộng từ miền đông sang miền tây Phi châu, Al Qaeda đã tỏ ra thực tiễn : họ hòa mình vào đời sống của các bộ tộc, kết thân với các bộ tộc đó để trụ lại những khu vực này một cách lâu dài và tiếp tục chiến đấu. Nhưng bên cạnh đó, thì phải chú ý đến một tổ chức khủng bố khác, thù nghịch với Al Qaeda đó là Daech. Cả hai cùng tranh giành ảnh hưởng để thống lĩnh các phong trào khủng bố trên thế giới. Hai tổ chức này kình chống nhau. Daech có chiến thuật tàn bạo và khát máu hơn Al Qaeda. Daech là thủ phạm những vụ tấn công đẫm máu hồi 2013-2015. Nhưng rồi từ 5 năm qua, tổ chức tự nhận là Nhà Nước Hồi Giáo này đã sa sút nhiều. Nhưng Al Qaeda hay Daech vấn hiện hữu, vẫn có khả năng cầm cự và cả hai cùng nguy hiểm như nhau ». Trong mục tiêu chống khủng bố, loạt tấn công 11/09/2001 thúc đẩy hợp tác quốc tế, bởi như ghi nhận của Frank Emmanuel Caillaud và Bruno Delamotte, Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS, trong bài tham luận năm 2001 trong tập sách mang chủ đề Những bài học từ 11 tháng 9, mọi quốc gia đều ý thức rằng đó là giải pháp để « bảo vệ tốt hơn an ninh cho chính mình ». Hai thập niên sau, giám đốc Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp – IFRI, Marc Hecker phân tích thêm về những tiến bộ của quốc tế trong việc hơp tác chống khủng bố đó : Marc Hecker : « Hợp tác quốc tế đã liên tục được mở rộng. Ngay sau loạt khủng bố 11 tháng 9 Mỹ đã khởi động chiến dịch chống khủng bố toàn diện. Hoa Kỳ không đơn thương độc mã khi lao vào trận chiến Afghanistan. Điều khoản 5 của NATO lần đầu tiên trong lịch sử được áp dụng. Các đồng minh của Mỹ trong Liên Minh Bắc Đại Tây Dương đã sát cánh với Hoa Kỳ - khác với những gì xảy ra hai năm sau đó khi Washignton can thiệp quân sự tại Irak. Điều quan trọng không kém là trong số những đồng minh cùng với Mỹ tham chiến ở Afghanistan có các các quốc gia Hồi Giáo. Ngoài vế quân sự, hợp tác ở cấp quốc tế cũng đã được ghi nhận trên rất nhiều lĩnh vực khác, thí dụ như trên mặt trận tài chính để chận các nguồn thu nhập của các nhóm khủng bố, hay hợp tác chống chiến dịch tuyên truyền tuyển mộ chiến binh thánh chiến … Cộng đồng quốc tế đã rất năng động, kể cả những chương trình hợp tác ở cấp vùng, như là tại châu Âu hay châu Phi chẳng hạn ». Điều khó hiểu là bất chấp hàng ngàn tỷ đô la chi ra, 8.000 tỷ đô la trong 20 năm qua, theo như thẩm định của đại học Mỹ, Brown- bang Rhode Island, và liên minh bao gồm những thế lực quân sự hàng đầu thế giới, là Hoa Kỳ, châu Âu … và cả sự hậu thuẫn của các nước Hồi Giáo, vậy mà vào lúc kỷ niệm 20 năm loạt khủng bố 11 tháng 9, một trung tâm nghiên cứu lâu đời của Mỹ như American Enterprice Institute, tại Washington lại báo động « đề cao cảnh giác » do nhiều nhóm thánh chiến « đã kêu gọi gia tăng các đợt tấn công nhắm vào phương Tây ». Al Qaeda có bị suy yếu, đối thủ của Al Qaeda là Daech, có sa sút và đánh mất nhiều thành trì tại Syria và Irak, và cũng có thể là không còn khả năng lên kế hoạch tấn công quy mô như loạt khủng bố tại Paris ngày 13/11/2013 nhưng các chi nhánh của Tổ Chức Nhà Nước Hồi Giáo tại Nigeria, Mali hay Yemen thì « vẫn con năng động. Daech vẫn có sức thu hút những chiến binh mới ». Nhà ngoại giao James Jeffrey, nguyên là đặc sứ Hoa Kỳ bên cạnh liên minh quốc tế chống khủng bố trong tuần ghi nhận « vẫn tồn tại một phần nguy cơ Daech diễn lại kịch bản tấn công như đã từng thấy tại châu Âu và một lần nữa đó có thể là những vụ tấn công sẽ lại do những cá nhân đã bị phương pháp hành động của quân thánh chiến thôi thúc ».   Trong bối cảnh đó, Marc Hecker, giám đốc viện IFRI của Pháp đồng tác giả cuốn sách nói về cuộc chiến chống khủng bố trong 20 qua, kết luận : Marc Hecker :« Một trong những bài học 20 năm vừa qua là không thể diệt trừ hoàn toàn quân thánh chiến bởi vì lý tưởng của các nhóm Hồi giáo cực đoan này rất là mạnh. Tây phương và ngay cả các nước Hồi Giáo như Indonesia, Malaysia hay các vương quốc dầu hỏa Trung Đông cũng không thể loại bỏ hẳn được những tư tưởng cực đoan đó. Hơn nữa luôn luôn có những yếu tố xã hội, chính trị, những điều kiện kinh tế khiến một số quốc gia, một số thành phần bị những tư tưởng cực đoan đó cuốn hút. Thành thử thay vì đề ra mục tiêu bài trừ khủng bố tận gốc rễ, theo tôi, có lẽ chúng ta nên hướng tới mục đích “khoanh vùng”, tránh để đe dọa khủng bố trở nên quá lớn, tránh quá nguy hiểm và lan quá rộng về mặt địa lý ».
    9/11/2021
    9:47

Sobre TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT

Website da estação

Ouve TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT, TẠP CHÍ ÂM NHẠC E várias outras estações de todo o mundo com a aplicação radio.net

TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT

TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT

Descarregue agora gratuitamente e ouve facilmente rádio e podcasts.

Google Play StoreApp Store

TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT: Podcast do grupo

TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT: Rádios do grupo

Information

Devido às restrições do seu browser, não é possível reproduzir directamente esta estação no nosso website.

No entanto, você pode tocar a estação aqui no nosso Popup-Player radio.net.

Radio