Radio Logo
RND
Ouça {param} na aplicação
Ouça TẠP CHÍ VĂN HÓA na aplicação
(171.489)
Guardar rádio
Despertar
Sleeptimer
Guardar rádio
Despertar
Sleeptimer
Página inicialPodcasts
TẠP CHÍ VĂN HÓA

TẠP CHÍ VĂN HÓA

Podcast TẠP CHÍ VĂN HÓA
Podcast TẠP CHÍ VĂN HÓA

TẠP CHÍ VĂN HÓA

juntar

Episódios Disponíveis

5 de 24
  • Tạp chí văn hóa - Dheepan : Cầu vồng ảo vọng
    Nhắc tới bộ phim “Dheepan”, người ta không thể phủ nhận được sự sáng suốt của Jacques Audiard, đạo diễn kiêm đồng biên kịch phim, khi lựa chọn hai diễn viên không chuyên cho tác phẩm của mình. Cả hai người, lần đầu tiên đứng trước ống kính, đã có những diễn xuất xuất thần, những ngơ ngác, lạc lõng, gượng gạo vô cùng cần thiết khi họ vào vai những người xa lạ lần đầu đặt chân tới nước Pháp. Cùng với đó, sở hữu những chi tiết đắt giá, những cảnh quay bố cục chặt chẽ, “Dheepan” dường như là thước phim tài liệu sống động về cuôc sống của những người nhập cư khốn cùng trên đất lạ quê người. Dù có nhiều tranh cãi, nhưng bộ phim vẫn gây tiếng vang lớn tại liên hoan phim Cannes lần thứ 68 năm 2015, bất ngờ đạt được Cành cọ vàng và, như một nhà phê bình phim đã nói, thì tác phẩm này tiềm ẩn trong nó một năng lực mạnh mẽ không thể chối cãi.   “Dheepan” là câu chuyện về một gia đình tị nạn ở Pháp, gốc Sri Lanka. Sivadhasan, chiến binh trong hàng ngũ “Những con hổ Tamoul”, quá hoảng sợ chiến tranh, đã trốn khỏi quân ngũ để tìm tới cuộc sống tốt đẹp hơn. Anh buộc phải nhận một người phụ nữ 26 tuổi và một đứa bé 9 tuổi làm vợ con. Họ cùng nhau giả làm một gia đình để được nhập cư vào Pháp với cái tên Dheepan, Yalini và Illayaal.      Mở đầu phim là một Dheepan phải thiêu xác những đồng đội của mình, đốt cả bộ quân phục anh đang mặc cùng những bộ xương đang cháy đen và một Yalini tuyệt vọng tìm kiếm bất cứ đứa trẻ bị bỏ rơi nào để làm con của cô. Họ đã đủ một gia đình, quyết định bỏ lại quá khứ phía sau lưng, bước vào cuộc sống mới với mong muốn sẽ tìm thấy ánh sáng cầu vồng xán lạn sau mưa. Từ đây, bộ phim mở ra biết bao hi vọng nhưng cũng thật nhiều đổ vỡ chán chường, cả những Tốt và Xấu song hành, mà quan trọng nhất là những “Nhân tính mắc kẹt giữa cái Ác” khao khát tìm cho được lối ra. Giả mà Thật, Thật mà Giả Cả ba người đặt chân lên đất Pháp bằng giấy tờ giả của những người đã chết, bằng những lời khai giả và bằng sự gắn bó giả tạo. Một gia đình không có thật, chỉ cốt nương tựa vào nhau để qua được “thế giới mới” và Yalini đã có sẵn dự định cho riêng mình là cô sẽ đi tiếp sang Anh để sống với chị họ của cô. Thế nhưng, dựa trên tất cả sự giả mạo ấy, một thứ tình cảm gắn bó Thật đã nảy sinh giữa họ. Mãi về sau này, người xem mới biết Dheepan đã từng có một gia đình thật, có vợ và hai con trai, nhưng họ đã bị chiến tranh cướp đi mất. Phải chăng vì vậy mà anh dành nhiều tình thương cho Illyaal, dù không ruột thịt? Khi Yalini nói dự định sẽ rời khỏi Pháp, Dheepan đã nhắc nhở cô hãy nghĩ cho con bé, nó mới chỉ 9 tuổi và nó cần mẹ. Dù Yalini tỏ ra lạnh lùng kéo Dheepan về với thực tại rằng họ chỉ là một gia đình giả thì bản thân cô cũng dấy lên tình thương với Illyaal. Lựa chọn ở lại sống chung với chồng và con gái giả có vẻ là lựa chọn rất Thật của Yalini bởi chỉ sau thời gian ngắn, khoảng cách giữa cô và Dheepan cũng kéo gần nhau hơn. Có hai chi tiết đắt giá, nhỏ thôi nhưng cũng đủ để khán giả dấy lên sự vui mừng cho họ khi Yalini tắm mà chỉ để hé cửa. Thân hình cô nửa kín nửa hở hiện ra sau cánh cửa khép hờ. Ánh mắt dịu dàng len lén dành cho Dheepan như là cho anh một dấu hiệu để lại gần cô. Rồi sau đó, ngày họ tham gia sinh hoạt cộng đồng, đi nhà thờ, đi picnic trong công viên, Illyaal đã hái cho Dheepan một bó hoa dại nhỏ, ra hiệu cho anh hãy tới chỗ Yalini. Họ trao cho nhau hoa, trao cho nhau ánh mắt, trao cho nhau cả lần gần gũi thân xác hiếm hoi. Khi Illyaal đánh nhau với bạn ở trường chỉ vì cô bé kia coi thường em thì Yalini đã quát mắng em, đã nói em là kẻ dối trá. Mới 9 tuổi, phải sống giữa những người xa lạ, trên một đất nước xa lạ, nhưng Illyaal đã chọn đối mặt với Yalini, dạy cho người mẹ hờ một bài học về Tình Thương. Em hỏi Yalini có anh chị em không, nếu có thì hãy yêu thương em như là cách mà cô yêu thương họ, vì em đã mất mẹ rồi và em cần được Yêu. Đó là những cảm xúc rất Thật giữa cái gia đình Giả mà dường như cũng sắp trở nên Thật, nếu cuộc sống không quá nhiều thử thách vẫn tiếp tục giáng xuống họ. Chính là công việc mới của Dheepan, công việc làm người canh gác cho một khu chung cư cũ đầy rẫy những kẻ sống ngoài vòng pháp luật, những băng nhóm tội phạm chen chúc nhau. Chính là cuộc sống Thật hiểm nguy rình rập ấy khiến cho Dheepan và Yalini phải tiếp tục giả vờ. Họ tảng lờ những gì đang diễn ra, cố gắng sống hài hòa, vờ như tất cả đều rất bình yên. Ngày ngày Dheepan đi quét dọn, sửa chữa đồ đạc ở khu chung cư. Ngày ngày Yalini dọn dẹp và nấu ăn cho một gia đình gồm hai người đàn ông, một - già bị tai biến và một là tội phạm đang bị quản thúc tại gia. Ngày ngày Illyaal vẫn đi học cùng những người bạn không thích tiếp xúc với em. Nhưng cuộc sống không để yên cho họ giữa những Thật giả lẫn lộn ấy. Quá khứ vẫn đuổi theo Dheepan, quá khứ mang tên một Đại tá cũ của Tamoul, yêu cầu anh phải tiếp tục con đường cũ. Hiện tại cũng không buông tha gia đình ba người khi mà những cuộc đấu súng, thanh trừng, giết hại lẫn nhau vẫn diễn ra quanh khu chung cư. Và tương lai thì là một ảo ảnh mù mờ không thể sờ nắm.        Tốt và Xấu Họ phải sống ra sao? Những người quá sợ hãi chiến tranh và súng đạn, bỏ chạy khỏi quê hương, một lần nữa phải đối mặt với nó ở nơi mà họ tưởng rằng sẽ là cầu vồng hạnh phúc, họ sẽ phải tồn tại như thế nào? Sẽ Tốt, như bản năng họ, hay sẽ Xấu, để sinh tồn? Bỗng nhiên, cái ranh giới giữa Tốt và Xấu trở nên thật nhạt nhòa. Dù có tình cảm với Dheepan và thấy gắn bó với Illyaal nhưng sau khi chứng kiến vụ nổ súng, nỗi sợ hãi trong Yalini lại dấy lên mạnh mẽ. Cô vội vàng thu xếp đồ đạc và bỏ trốn. Vậy Yalini là Tốt hay Xấu? Dheepan đã bắt cô ở lại, cất hộ chiếu của cô để cô không thể đi đâu. Anh giữ chân cô vì Illyaal hay vì bản thân anh? Vì cái giấc mộng gia đình đang dần thành hiện thực? Sau sự việc nổ súng, Dheepan đứng lên mạnh mẽ, phản ứng với lũ côn đồ ở dãy nhà đối diện bên kia nhưng lại qua lại với băng nhóm dãy bên này như tìm kiếm sự hỗ trợ và bảo vệ. Anh khiến cho Yalini thất vọng, quay lưng lại với anh. Vậy anh là Tốt hay Xấu? Những nỗ lực trở thành người tốt liệu có thành hiện thực giữa một thực tại tăm tối đầy rẫy vũ lực? Cái kết của “Dheepan” là điều tất yếu sẽ phải xảy ra, khi mà người ta bị ép vào tận đường cùng thì họ sẽ bật dậy mạnh mẽ như một sợi dây cao su kéo quá căng. Với nhiều người, đây là phân đoạn vô cùng ám ảnh. Mở đầu phim, ta thấy chiến tranh ở Sri Lanka chỉ thông qua cảnh Dheepan phải thiêu xác đồng đội chất chồng hay cảnh dân tị nạn sống trong những túp lều tạm bợ. Thì ở cuối phim, cuộc chiến mà Dheepan phải tham gia vào nó giống như cuộc chiến tận thẳm sâu bên trong con người anh, giữa Thiện và Ác, giữa Xấu và Tốt. Những cảnh quay ngang thân dưới, chỉ nhìn thấy bước chân vững chãi của Dheepan bước trên những bậc thang ở khu chung cư và bàn tay cầm súng cầm dao của anh. Tia lửa bắn ra xung quanh. Tiếng súng. Và những thân người ngã xuống dưới bước chân ấy. Nhưng vẫn không hề có bất cứ một sự chần chừ hay ngần ngại nào. Vẫn là những bước chân và những xác người. Chỉ tới khi Dheepan tiến tới căn hộ và cất tiếng gọi… Chỉ khi Yalini xuất hiện, người dính đầy máu của tay anh chị vừa bị bắn chết thì khán giả mới thấy được gương mặt của Dheepan. Gương mặt của kẻ bị lạc lối giữa bạo lực, bắn giết và nỗi sợ hãi. Anh gần như không nhận ra Yalini trong cơn say máu ấy cho tới lúc cô chạm vào anh. Bàn tay Yalini níu chặt gương mặt Dheepan. Nỗi đau khổ dồn ứ trong họ, giữa những xác người, những khói súng, những cháy nổ… để rồi bật ra là hình ảnh của tương lai. Cái tương lai lấp lánh sắc cầu vồng mà họ vẫn mơ tới… Đó là một gia đình hạnh phúc, Dheepan, Yalini và Illyaal, giữa không gian ngập nắng, trong bữa tiệc nhỏ với bạn bè thân thiết và họ trao nhau một đứa con trai bé bỏng trên tay.  Phim là một cái kết mở. Người ta không biết thật sự tương lai đó là Thật hay chỉ tồn tại trong ảo mộng của những người nhập cư khốn khổ kia hay chỉ là hi vọng của những nhà làm phim muốn gửi gắm tới người xem. Có thể cũng không cần phải biết một cách rõ ràng như thế nữa bởi vì xuyên suốt bộ phim, dù là trong trại tị nạn, dù là ở khu chung cư cũ ẩm thấp hay ở giữa làn súng đạn của các băng đảng thanh trừng lẫn nhau thì khán giả vẫn thấy lấp lánh tình yêu thương đây đó. Giá trị nhân văn của “Dheepan” nằm ở chỗ dù người ta biết cầu vồng chỉ là hình ảnh phản chiếu của ánh sáng Mặt trời qua những giọt nước trong không khí thì người ta vẫn mong muốn được vươn tới nó bằng tất cả sự tốt đẹp trong bản chất một con người.
    12/4/2021
    10:03
  • Tạp chí văn hóa - Hạnh ngộ Thơ-Nhạc : Dana Ciocarlie cùng những tâm hồn đồng điệu
    Nhân dịp ra mắt đĩa nhạc « Bubbles » của hãng băng dĩa La Dolce Volta vừa rồi, Dana Ciocarlie - nghệ sĩ dương cầm người Pháp gốc Rumani - cùng những người bạn nghệ sĩ thân thiết nhất biểu diễn tại Salle Gaveau, Paris quận 8, ngày 5 tháng 12. Dường như hàng năm, bà đều trở lại thính phòng này. Năm 2018, bà từng trình diễn cùng nghệ sĩ dương cầm người Gruzia, Irakly Avaliani. Năm 2019 bà độc tấu tại đây một chương trình hoàn toàn dành cho Schumann. Năm 2020, Paris bị phong tỏa suốt nhiều tháng, giới nghệ sĩ phải đợi mãi đến sau tháng Giêng năm 2021 mới được trở lại sân khấu. Chương trình vào tháng 12 hứa hẹn nhiều thú vị : độc tấu, song tấu piano-violon với nghệ sĩ Gilles App, piano-cello với Astrig Siranossian, piano-accordeon với Pascal Contet, thơ được thể hiện qua giọng đọc truyền cảm của Julie Depardieu, piano cùng sánh theo tiếng hát ngọt ngào của 2 ca sĩ Isabelle Georges, Julliettte Armanet và giọng ca đặc biệt của nhạc sĩ Philippe Katerine. Với một chương trình biểu diễn đa dạng: ngoài những tác giả cổ điển quen thuộc như Schubert, Chopin, Mozart, người nghe sẽ được thưởng thức tác phẩm của các tác giả đương đại như Satie, Philip Glass và đồng thời sẽ không bị nhàm chán nhờ các giai điệu múa như Tango của Piazzola, hay vũ điệu dân gian của Artemi Ayvazian. Tiếng đàn đi vào lòng người Cách diễn đạt tự nhiên và đầy cảm xúc của Dana Ciocarlie được so sánh với tiếng đàn của nghệ sĩ dương cầm nổi tiếng Clara Haskil; yếu tố này khiến bà luôn gặt hái thành công ở mọi buổi diễn đồng thời nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt của khán giả khắp nơi. Tài năng bà được biết đến qua các giải thưởng lớn : Giải Quốc Tế Robert Schumann tại thành phố Zwickau, nơi Schumann được sinh ra và lớn lên, giải đặc biệt Sandor Vegh tại Zurich, giải quốc tế Pro Musicis, giải nghệ sĩ trẻ Châu Âu tại Leipzig, giải Ferrucio Busoni tại Ý. Sinh ra tại Bucharest trong một gia đình không có truyền thống âm nhạc, Dana Ciocarlie đến với dương cầm như một khám phá bất ngờ của riêng bà, nó như « một vật thể đầy ma thuật có khả năng cuốn hút kỳ lạ ». Bà kể lại cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa bà và cây đàn nhân một dịp đến chơi nhà một người cô lúc bà 5 tuổi rưỡi. Âm thanh của nó ngay lập tức mê hoặc bà. Sau đó, tuy không thể thuyết phục được ba mẹ cho ghi danh học piano và mua đàn, bà đã phải tự chế tác một cây piano bằng giấy trong những năm đầu. Mãi đến 9-10 tuổi bà mới thực sự được học nhạc và sau đó được tuyển vào trường trung học đặc biệt dành cho các các học sinh tài năng. Đến Pháp năm 1991, Dana Ciocarlie được học với Victoria Melki tại Ecole Normale Superieure de Musique Alfred Cortot, với Dominique Merlet ở Nhạc Viện Cao Học Quốc Gia tại Paris (Conservatoire National Supérieur de Musique de Paris). Năm 2018, CD nhạc tuyển chủ đề Schumann của bà được chọn giải CD hay nhất trong giải Những Thành Công Của Âm Nhạc Cổ Điển tại Pháp (Les Victoires de la Musique Classique). Bộ CD bao gồm 13 dĩa nhạc được thu trực tiếp từ 15 buổi trình diễn trong suốt 4 năm tại Dinh Béhague của Đại Sứ Quán Rumani tại Paris. Với lối diễn đạt như hòa mình vào tâm trạng và cuộc đời của tác giả, trong suốt 14 giờ, toàn bộ các tác phẩm của Schumann được hồi sinh qua nhiều sắc thái vô cùng sâu lắng. Một số các nhạc sĩ thời nay như Edith Carnat de Chizy (cho loạt sáng tác « Dong buồm » - « Sailing »), Jean Pierre Armanet  (« Nước Mỹ là đây » - « This is America »), Jacques Lenot (« Thư gửi khách lãng du » - « La lettre au voyageur ») tìm đến Dana Ciocarlie để riêng tặng bà tác phẩm của họ với ước mong chúng được truyền đạt đến công chúng qua ngón đàn giàu cảm xúc của bà. Người viết bài này đã được nghe bà trình diễn « Sailing » tại điện Invalides cạnh lăng mộ Hoàng đế Napoleon ở Paris ngày 19 tháng 9 vừa qua. Edith Carnat de Chizy đã đưa vào tác phẩm của mình tất cả âm thanh của đại dương: rì rào sóng vỗ, vi vu gió, ì ầm bão biển. « Sailing » được đề tặng riêng cho Dana Ciocarlie. Chỉ với 10 ngón tay, 7 nốt nhạc và 88 phím đàn, bà đã cuốn người nghe đến cõi mênh mông của biển khơi.  Qua trao đổi với RFI Tiếng Việt, bà giải thích : « Tôi cố gắng thể hiện tác phẩm sao cho đạt đến mức âm nhạc trở nên thống khoái tự do. Khi ta tìm hiểu điều gì đó được sáng tác bởi người khác, nếu nắm bắt được ý tưởng và cảm xúc sâu xa của tác giả, ta sẽ có thể thâm nhập vào đúng cái điều đã làm thăng hoa trí tưởng tượng của người nghệ sĩ. »     Bubbles, cuộc đoàn viên của những kẻ tha hương Bubbles gợi hình ảnh những ly sâm-banh sủi bọt. Hãy cùng nâng ly để mừng cuộc hạnh ngộ, để chia sẻ hi vọng và ước mơ sau thời gian dài bị phong tỏa vì Covid. Đĩa nhạc đã được ghi âm vào tháng 9 năm 2020 – thời gian mà mọi sinh hoạt trình diễn đều đóng băng, sân khấu nguội lạnh và các nghệ sĩ, không riêng gì ở Pháp, đều khắc khoải chờ đợi. Đó cũng là cuốn phim tua lại cuộc đời của Dana Ciocarlie, với những khoảnh khắc khó quên, « như một bức hình gia đình hay một tập ảnh kỷ niệm với những bức ảnh cũ của quá khứ, cũng có những bức mới của hiện tại, qua đó ta thấy lại tuổi thanh xuân, buổi đầu tập tễnh với dương cầm, với các thầy cô, âm nhạc thuở ấu thơ, và ta có những người bạn. Ta xem lại các bức ảnh và rồi, bạn ta bỗng hiện diện. Những bài độc tấu là quá khứ, những bài song tấu cùng bạn bè là hiện tại. » Dana Ciocarlie hiện là giáo viên giảng dạy nhạc thính phòng ở Nhạc Viện Cao học Quốc Gia Lyon. Trong cuộc phỏng vấn trên Kênh nhạc France Musique năm 2017 nhân dịp ra mắt bộ đĩa Schumann, bà tâm sự: « Là một nghệ sĩ dương cầm, tôi thật may mắn có cơ hội phiêu lưu vào các thế giới đa dạng của âm nhạc. » Bà cho rằng sự phối hợp của các giọng khác nhau trong nhạc thính phòng làm cho âm thanh nên phong phú. Phần lớn các CD trước đây của bà độc tấu hoặc chỉ song tấu với một nhạc cụ khác (CD với nghệ sĩ kèn Saxophone Guy Touvron, CD piano 4 tay với Christiane Baume-Sanglard, CD với nghệ sĩ vĩ cầm Marianne Piketty, v.v.). Đĩa này đặc biệt chỉ có 4 bài độc tấu. 17 bài còn lại là song tấu với nhiều nhạc cụ khác. Được hỏi về sự chọn lựa các nghệ sĩ trong chương trình này nhân dịp phỏng vấn bà cho RFI ngày 21 tháng 11 vừa qua, bà giải thích thêm về sự ra đời của "Bubbles" : « Tôi thường tìm người đồng hành, một nhạc cụ khác hay một giọng ca. Điều quan trọng và đẹp đẽ đối với tôi là các âm hưởng khác nhau từ sự phối hợp khác nhau của các nhạc cụ, cây đàn dương cầm không phải là một công cụ vật chất, mà là cánh cửa mở rộng cho trí tưởng tượng. » Được tự do chọn bài, mỗi nghệ sĩ cùng Dana Ciocarlie thể hiện một hoặc hai bài đặc trưng cho thể loại sở trường của họ. « Ca sĩ Isabelle Georges chọn nhạc của Gilbert Bécaud để tưởng nhớ 20 năm kể từ ngày ông mất. Bài Nghệ sĩ dương cầm Varsovie cô hát kể lại kỷ niệm đầu với Chopin, cũng để tưởng nhớ những người thầy dạy dương cầm. » Pascal Contet nghệ sĩ accordeon, khi đàn nhạc Tango của Piazzola hay nhạc do ông sáng tác mang lại cho khán phòng không khí nhộn nhịp đúng tinh thần của một cuộc găp gỡ. Julie Depardieu đọc 3 bài thơ của 2 thi sĩ người Rumani (Nichita Stanescu và Lucian Blaga) đan xen vào các bản nhạc như là quãng lặng để chấm câu ngắt đoạn hoặc để thay cho « lời giới thiệu trước khi bắt đầu một chương mới. » Cùng nhau chinh phục khán thính giả qua các thể loại âm nhạc đa dạng Thật khó nhắc về Đặng Thái Sơn mà không liên tưởng đến các tác phẩm của Chopin hoặc Glenn Gould với các Préludes hay Fugues của Bach. Dana Ciocarlie ngược lại, bà hoàn toàn không muốn bị khép vào một khuôn khổ hay một loại nhạc cố định. Người ta biết đến bà phần lớn là qua nhạc cổ điển, qua các tác phẩm Schumann, Schubert và Mozart. Khá ngạc nhiên trước câu hỏi vì sao bà chuyển hướng sang loại nhạc Cabaret, Dana Ciocarlie cho biết :« Nhạc Cabaret gắn liền với tư chất của những người được mời góp phần vào Bubbles ». Ngoài việc tôn trọng chất giọng lẫn thể loại nhạc họ thường hát, bà cũng cố tình muốn vượt xa hơn khả năng của mình. « Nếu tận dụng hết khả năng của mình, tôi hi vọng công chúng cũng sẽ có sự đồng cảm tương tác. Tôi nhận thấy nhạc cổ điển ngày càng giới hạn ở một đối tượng văn hóa riêng biệt, một số người nhất định, thường chững lại ở một lứa tuổi nào đó. Nếu có điều kiện hay cơ hội lôi cuốn các tầng lớp khán giả khác nhau, đồng thời chứng minh cho họ thấy rằng nhạc cổ điển không chỉ dành riêng cho những kẻ thông thái, rằng nó không phải là cái chi đáng sợ; nếu làm được như vậy thì ta nên làm thôi ! ». Việc phối hợp các loại nhạc trong buổi trình diễn, thậm chí đưa thơ vào lời ca hay đọc thơ, có lẽ làm cho chương trình càng thêm phong phú. Trong khi người Việt Nam quá quen thuộc với việc ngâm thơ có đệm đàn tranh hoặc sáo trúc, thì điều này khá mới lạ đối với người Pháp. Dana Ciocarlie cũng cho biết dự kiến năm tới bà sẽ ra mắt một dĩa nhạc trong đó bà trình bày các tác phẩm lấy cảm hứng từ các bài thơ Haiku Nhật Bản, của Philippe Hersant. Vào ngày 16-17/01/2022 sắp tới, bà sẽ trình diễn với nhóm Brumes du Nord một chương trình có lồng âm nhạc vào các trích đoạn truyện cổ tích của Anderson, tại L'Entrepôt quận 14 Paris. « Tôi nghĩ phối hợp nhiều loại hình nghệ thuật là góp phần gắn kết các thể loại âm thanh lại với nhau, dù là giọng đọc hay tiếng đàn – nó như một tấu khúc hòa âm. » Cuộc trò chuyện do RFI thực hiện với nghệ sĩ dương cầm Dana Ciocarlie đã mở ra nhiều cánh cửa thú vị cho giới yêu nhạc. « Bubbles » không chỉ là những ly rượu sâm-banh sủi bọt mừng hạnh ngộ giữa Dana Ciocarlie và bạn bè, mà còn là một cuộc « giao duyên » thơ-nhạc thật đặc sắc, với nhiệt tình hợp tác từ những người nghệ sĩ có cùng đam mê và lý tưởng cống hiến vì nghệ thuật. Giữa không khí u ám toàn cầu vì dịch bệnh, « Bubbles » như tia nắng ấm trong một ngày mùa đông.
    12/3/2021
    13:07
  • Tạp chí văn hóa - “ĐỜI SỐNG THƯỢNG LƯU” : Cội rễ dưới ánh mặt trời
    Một cái gì thật châm biếm, hài hước, đau hay vui nhưng vẫn đầy sự mỉa mai, biết tự cười Mình và cười Người, chỉ có thể rất Ý, là điều người ta sẽ tìm thấy trong “The great beauty”, tạm dịch là “Đời sống thượng lưu” của điện ảnh Ý. Đạo diễn kiêm đồng biên kịch Paolo Sorrentino đã chinh phục tượng vàng Oscar lần thứ 86 bởi những câu chuyện nhỏ xen lẫn vào những cảm xúc của nhân vật chính là một sợi dây xuyên suốt phim, cho người ta thấy “cuộc đời chỉ là hành trình của sự tưởng tượng, tất cả đều đi từ Sống tới Chết … và tất cả vốn chỉ là một trò lừa đảo” mà thôi. Truyện phim kể về Jep Gambardella, một nhà văn ở tuổi 65, người đã từng có tác phẩm văn học nổi tiếng ở Ý, mang tên “The Human Apparatus”. Kể từ sau cuốn tiểu thuyết ấy, 40 năm đã trôi qua, ông không thể viết thêm bất cứ tác phẩm nào, bởi trong thâm tâm, ông luôn muốn “tìm một vẻ đẹp cao quý nhưng chưa tìm được”. Jep trở thành một nhà báo, chuyên thực hiện các cuộc phỏng vấn với những người nổi tiếng ở Roma. Từ đó, dường như những điều xấu, đẹp, hay, dở đều được bộc lộ, và qua con mắt của Jep, nó nửa đau thương nửa hài hước, nửa sang trọng nửa thô lậu, khiến cho người ta phải dở khóc dở cười. Ở đó, vẻ đẹp của Roma hiện lên mê hoặc, đầy sức sống nhưng thật ra là “đang chết dần” trong mắt ông. Nhìn vào Jep, người ta thấy cuộc sống của một Gatsby với những cuộc vui, những tiệc tùng thâu đêm suốt sáng, những giấc ngủ khi người khác thức dậy và bình minh lúc 3 giờ chiều. Thế nhưng, Jep là một người tỉnh táo, luôn biết mọi thứ biến động quanh mình, biết mình là ai, mình ở đâu, biết những người xung quanh đang hiện hữu theo cách nào và như một câu thoại ông đã nói, rằng “Mọi thứ quanh tôi đang chết, cả Roma, cả những người trẻ hơn tôi và tôi”. Cuộc đời với những cái mũi dài Hẳn ai cũng biết nhân vật Pinochio, chú bé người gỗ mỗi lần nói dối là một lần chiếc mũi lại dài ra. Trong “Đời sống thượng lưu” thì không hẳn vậy, dường như ai cũng dối trá nhưng chẳng có cái mũi nào dài ra cả. Do đó, những dối trá ấy trở thành bí mật và ai cũng cho mình cái quyền được nói dối, được sống dựa vào những “bí mật tưởng như không thể bật mí” ấy. Những sự lố lăng được Jep lần lượt bóc tách như bóc một củ hành nhiều lớp, không hẳn là một bài phỏng vấn nhưng giống như những thấu hiểu quá rõ ràng mà ông dành cho họ, dành cho cuộc đời đang diễn ra quanh mình. Đó là tảng băng chìm bên dưới sự hoa mỹ, mang danh của nghệ sỹ, của nhà văn, của giới thượng lưu, thậm chí, của cả một đức Hồng Y. Một nghệ sĩ kịch câm tự lao đầu vào tường, luôn nói những điều đao to búa lớn về thấu cảm, về cảm xúc nhưng lại không thể lí giải cái cảm xúc ấy là gì. Có phải cô nghĩ “Tôi là nghệ sĩ và tôi không cần phải giải thích” - đó là điều mà Jep nói thẳng vào mặt cô ta khi sự lúng túng bộc lộ bên dưới cái vỏ khó hiểu kệch cỡm nửa mùa. Một nhà văn có 11 cuốn sách, nhìn đời bằng nửa con mắt với sự khinh miệt, tự phụ, thì hóa ra cái kết quả ấy chẳng qua là nhờ vào “lưới tình” của cô ta với giới chính khách. Ngoài miệng rêu rao sự hi sinh vì gia đình, vì con cái nhưng kì thực, cô ta có tới 3 người giúp việc, có cả quản gia, người phục vụ… để dạy dỗ và gần gũi các con, vậy cô ta hi sinh cái gì? Một cô bé họa sĩ nhỏ tuổi bị cha mẹ lôi ra khỏi sân chơi với các bạn cùng lứa, ép phải tham gia vào bữa tiệc sang trọng nơi có rất nhiều nhà sưu tầm tranh đang đợi và bắt cô phải vẽ trước mặt hàng chục con người “thượng lưu” đầy tò mò. Cô bé trút tất cả sự giận dữ lên tấm toan khổng lồ, vấy màu lên toàn thân mình, hét và khóc… Rõ ràng cô đang khóc, nhưng đổi lại, gia đình cô sẽ kiếm hàng triệu Euro chỉ sau một đêm. Một đôi vợ chồng bá tước hết thời cho thuê chính mình với giá 250 euro một người để có mặt ở những bữa tiệc sang trọng của giới thượng lưu, thậm chí, giả danh những người có tước vị danh giá khác. Một đức Hồng Y luyên thuyên về việc nấu các món thỏ hay hươu … mặc dù xung quanh chả ai bận tâm tới ông. Một quả phụ yếu đuối giàu có chưa từng bỏ lỡ một bữa tiệc nào nhưng ngoài miệng luôn tỏ ra lo lắng cho cậu con trai có vấn đề về thần kinh của mình một cách vô cùng đáng thương. Tất cả những câu chuyện ấy, những con người ấy là cuộc sống bao quanh Jep trong những bữa tiệc thâu đêm suốt sáng không có điểm dừng. Bữa tiệc không dừng lại. Và họ dường như cũng không dừng lại. Họ bám vào nhau, đu lấy nhau, tạo thành điệu nhảy Đoàn tàu, hát hò, uống, nhảy múa quanh biệt thự. Cái điệu nhảy mà Jep cho rằng đó là điệu nhảy đẹp nhất Roma, đoàn tàu ấy là đoàn tàu tốt nhất Roma bởi vì suy cho cùng, nó chẳng đi đến đâu cả. Hình ảnh Jep nằm trên ghế ở tầng trên, bên dưới là đoàn người nhảy điệu đoàn tàu bám vai nhau chạy vòng quanh vô định chính là nhìn nhận của ông với cuộc sống của họ. Cuộc sống hoang dại, vô nghĩa kéo dài ngày này qua ngày khác mà chẳng bao giờ tìm thấy đích đến. Thế nên, Jep đã nói “Thay vì vênh váo, hãy học cách cảm thông với nhau, hãy vui vẻ với nhau đi”. Thế nên, sau khi chỉ trích nhà văn có 11 tác phẩm kia, Jep lại nghĩ tới việc sẽ ăn nằm với cô ta. Thân xác chỉ để khỏa lấp những trống rỗng trong tâm hồn. Nhưng liệu Jep có thỏa mãn… khi mà ngoài kia, mọi thứ vẫn đang chết? Tại sao Sơ Maria chỉ ăn rễ cây? Gốc rễ mới là quan trọng. Đó là điều sơ Maria nói với Jep khi bà trả lời câu hỏi tại sao bao năm qua bà chỉ ăn rễ cây. Sự sống diễn ra quanh Jep như một vòng tròn lặp vô nghĩa, còn cái Chết thì lại đến quá đỗi bất ngờ. Mối tình đầu của ông ra đi khi bà vẫn chỉ yêu mình ông suốt bao năm và người chồng của bà chỉ là một người bạn, không hơn. Mối tình mới nhất của Jep cũng qua đời khi họ chỉ vừa gặp và gần gũi nhau, dù cô mới chạm tuổi 40. Và cậu con trai bị bệnh tâm thần của bà góa thượng lưu cũng tự tử lúc còn quá trẻ. Tất cả diễn ra quá nhanh. Đó là cách mà mọi thứ kết thúc, cái chết. Sự châm biếm tiếp tục được thể hiện rõ nét ở phân đoạn Jep cùng người yêu chọn lựa trang phục dự đám tang của cậu thanh niên. Cái cách ông nói về việc tham dự lễ tang của giới thượng lưu nó thật bài bản. Nó không còn là việc chia buồn đơn thuần nữa mà giống như một sự phô trương đúng mực nhất, chân thành nhất cần có ở một bậc thượng lưu. Nhất định phải làm cho đúng từng cử chỉ, điệu bộ, không được khóc “chen” phần của khổ chủ bi thương hay phải ghé tai khổ chủ mà nói rằng mình luôn ở cạnh họ để xẻ chia nỗi buồn nếu họ cần. Một sự giả tạo trong một đau thương có thật. Bởi đây là giây phút duy nhất trong chuỗi sự kiện mai mỉa nực cười xuyên suốt phim, ta thấy Jep khóc. Sau tất cả những hành động chuẩn mực của một người thượng lưu, Jep đã đứng lên khiêng quan tài cho cậu thanh niên đáng thương và bật khóc. Giọt nước mắt ấy chắc chắn là giọt nước mắt từ “gốc rễ”, từ tận thẳm sâu con người Jep, từ lòng thương và sự cảm thông có thật. Hình ảnh chú hươu cao cổ trong khu vườn và màn ảo thuật của vị ảo thuật gia làm cho chú biến mất khiến Jep chú ý hơn cả. Không phải bởi sự vi diệu mà bởi chính Jep cũng đang muốn biến mất. Cuộc sống vẻ như chả còn ý nghĩa gì nếu cứ ngày đêm lẫn lộn giữa rượu, tình dục và những đoàn tàu nhảy múa. “Vậy hãy làm tôi biến mất luôn đi”. Vị ảo thuật gia đã phì cười khi Jep ngỏ ý, tất cả chỉ là trò lừa bịp thôi mà. Ở đoạn đầu phim, Jep đã nói “hành trình của chúng ta là tưởng tượng, là đi từ sống tới chết”. Người ta thấy những cảnh quay hiển hiện một Roma thật đẹp, trong sáng, những con người bình dị, những khúc hát vang vọng nơi Thánh đường … Rồi xen vào đó, là cái chết bất ngờ của một du khách khi đang thăm thú cảnh quan của thành phố. Cứ thế, ông ta ngã xuống … vậy là hết một đời … không trăng trối, không có sự chuẩn bị … đi từ sống tới chết … Rồi cuối phim, khi đàn Hồng hạc bất ngờ xuất hiện trên sân thượng ngôi biệt thự và sơ Maria nói bà có thể gọi tên Thánh của từng con Hạc … khi bà nói bà ăn rễ cây vì rễ là quan trọng nhất … thì đó cũng là lúc Jep nhận ra điều quan trọng hơn cả. Đó cũng là lúc bà Bá tước Colonnas, người vẫn cùng chồng bán tước hiệu với giá 250 euro mỗi lần dự tiệc, tìm tới ngắm chiếc nôi bà từng được cha là Hoàng tử đặt nằm trong đó ở một phòng trưng bày cổ vật. Gốc rễ của mỗi con người là nguồn cội, là những cảm xúc từ tận thẳm sâu. Jep rảo những bước chân thật chậm quanh Roma, giống như một cuộc dao chơi trong đời, nhìn ngắm tất cả để rồi đúc kết ra những gì thuộc về bản chất. Đó là cái cách mọi thứ kết thúc, cái chết. Nhưng trước đó, nó là Sự Sống. Vạn vật bao bọc lẫn nhau, không có cái vỏ nào ở bên ngoài và cũng không có lớp nào ở trong cùng. Chỉ cần một gốc rễ khỏe mạnh được nuôi dưỡng dưới ánh mặt trời.
    11/27/2021
    9:43
  • Tạp chí văn hóa - “TRÁI TIM LỠ NHỊP” : Những bổng trầm cứu rỗi
    Có một sự kết hợp không phải dễ tìm thấy giữa nhạc cổ điển và những chi tiết bạo lực băng nhóm, nhưng cũng không hề làm mất đi những nét duyên dáng và hấp dẫn vốn có, tất cả đã được thể hiện thật xuất sắc trong bộ phim “Trái tim lỡ nhịp” của đạo diễn Jacques Audiard, điện ảnh Pháp. Bộ phim đã đạt được rất nhiều thành tựu trong các liên hoan phim lớn trên thế giới, đặc biệt, giành 8 trong số 10 đề cử giải Cesar năm 2005. Với cái tên gốc là “De battre mon coeur s’est arrêté”, phim được làm lại từ bộ phim của điện ảnh Mỹ “Fingers” của đạo diễn James Toback, ra mắt lần đầu tiên vào năm 1978. Tuy nhiên, “Trái tim lỡ nhịp” được đánh giá là đã tạo nên một không gian hoàn toàn mới, vượt ra khỏi tầm ảnh hưởng của tác phẩm gốc. Người ta thấy ở đây một câu chuyện đẹp hơn, dày dặn, đa màu sắc hơn và đầy tính nhân văn hơn. Bởi vậy, kịch bản phim đã đạt giải Cesar dành cho “tác phẩm chuyển thể hay nhất”. Bộ phim dài gần hai tiếng đồng hồ kể về Thomas, một chàng trai đã 28 tuổi, luôn bị dằn vặt giữa công việc buôn bán bất động sản mà cha anh áp đặt với những cách xử lí “bẩn thỉu”, ngoài vòng pháp luật và một đam mê nghệ thuật mơ hồ nằm trong máu, vốn được di truyền từ người mẹ là nghệ sĩ piano đã mất của anh. Một mặt, Thomas vẫn phải duy trì công việc làm ăn của mình đồng thời vẫn hướng tới mong ước sẽ phát huy tài năng thiên bẩm trong một ngày không xa. Sức mạnh của âm nhạc Không phải ngẫu nhiên mà người ta nói công việc của Thomas và các cộng sự đang làm có chút “bẩn thỉu” và giống như một băng nhóm xã hội đen hơn là một công ty bất động sản. Họ thả chuột vào các tòa nhà mà họ đã dòm ngó từ trước với ý định khiến cho giá nhà hạ xuống để thu mua được với giá rẻ rồi sau đó sẽ bán cao kiếm lời. Họ cho người tới đập phá các khu chung cư bỏ hoang, đuổi những người vô gia cư khốn khổ ra ngoài đường, thậm chí đánh đập mọi người một cách tàn nhẫn… Tất cả chỉ để phục vụ cho việc bán chác được thuận lợi và dường như cả Thomas lẫn hai cộng sự của mình đều không mảy may suy nghĩ hay ân hận. Một việc làm không giết chóc ai, không ai phải chết mà họ lại kiếm được rất nhiều tiền. Đêm đêm, họ tự thưởng cho nhau những ly rượu bỏng cháy cổ họng, những cô em chân dài mướt mát và cả những pha choảng nhau sứt đầu mẻ trán để giải trí trong các quán bar. Cuộc sống vốn dĩ đơn giản và cứ thế diễn ra ngày này qua ngày khác… cho đến khi… cái mã GEN trong máu Thomas trỗi dậy, cái “máu” của một nghệ sĩ dương cầm. Bà Sonia, mẹ của Thomas đã mất gần 10 năm trước, đó cũng là lúc anh ngừng chơi piano để theo nghiệp của cha. Nhưng trong căn hộ của anh vẫn còn cây đàn piano mẹ để lại, vẫn còn cả những băng cát sét thu âm của mẹ và những bản nhạc đã cũ. Cái đêm Thomas vô tình gặp lại ông Fox, người quản lí cũ của mẹ anh, là đêm định mệnh khiến anh trở lại với khát khao âm nhạc, đặc biệt khi ông Fox vẫn trầm trồ về tài năng thiên phú của anh và yêu cầu anh hãy chuẩn bị cho buổi xét tuyển nghệ sĩ mà ông sắp tổ chức. Thomas như bị kéo ngược về quá khứ, cũng là lần đầu tiên anh ngồi vào cây đàn sau chừng ấy năm không còn ai vỗ về động viên. Rồi, sau khi bị trường đào tạo âm nhạc từ chối, số phận run rủi cho anh gặp Mao Lin, cô giáo dạy dương cầm người Việt Nam. Oái oăm thay, Mao Lin lại không nói được tiếng Pháp vì cô vừa đặt chân tới Paris. Nhưng cái rào cản ấy chẳng nghĩa lý gì với một người đang nuôi khao khát được làm lại như Thomas. Từ đây, người ta đã đoán biết chuyện gì sẽ xảy ra sau đó. Âm nhạc đã dần dần xâm chiếm Thomas, vật lộn đấu tranh với con người thô loạn đen tối đầy bạo lực trong anh để vươn lên tìm sức sống. Ban đầu, Thomas vô cùng căng cứng. Bàn tay chỉ để kí kết hợp đồng. Bàn tay chỉ để cầm bao tải chuột đi thả khắp khu dân cư. Bàn tay chỉ để cầm những vật dụng hữu ích nhất dùng cho việc đánh nhau. Bàn tay trầy xước với máu me và đất cát. Bàn tay ấy giờ đây phải tập làm quen dần trở lại với những phím đàn. Con người quen với những đấm đá. Con người quen với những rượu và thuốc. Con người quen với mưu mô toan tính. Con người ấy giờ phải học cách ngồi thật vững, thật thẳng lưng, học cách Thở và thả lỏng, học cách lắng nghe. Không dưới một lần Thomas đã cáu bẳn và gay gắt với Mao Lin, thậm chí còn đuổi cô ra khỏi chính căn phòng cô đang dạy anh. Nhưng, không giống với những người vẫn luôn sợ hãi và khinh thường Thomas, Mao Lin vẫn đứng đó, lớn tiếng nói với anh bằng tiếng Việt, rằng cô cần anh tôn trọng mình, rằng cô là một nghệ sĩ và anh phải học cách nói chuyện với cô bằng cách khác. Sự khác biệt về ngôn ngữ không phải rào cản giữa họ bởi âm nhạc đã làm thay việc đó. Mỗi lần Thomas tới nhà Mao Lin học là một lần anh học cả cách Thở, cách kìm chế cơn giận, chế ngự những bạo lực nóng nảy thô lậu của bản thân… để rồi, âm nhạc len lỏi trở lại vào cơ thể Thomas, dọn sạch trí óc của anh, soi sáng những xúc cảm tưởng như đã chết từ lâu theo cái chết của mẹ anh. Những giây phút ở bên Mao Lin, bên cây piano trở thành những giây phút bình yên hiếm hoi của Thomas. Trường đoạn trước khi tham gia buổi tuyển nghệ sĩ của ông Fox chính là trường đoạn Thomas nhìn nhận rõ rệt nhất về bản thân mình. Đêm đó, Thomas không tham gia vào cuộc đuổi bắt và đánh đập những người vô gia cư trong tòa nhà mà anh và các bạn đã chọn để mua bán. Anh chỉ đứng đó, nhìn cơn hoảng loạn. Dưới ánh đèn pin lấp loáng, người ta thấy gương mặt Thomas nhợt nhạt bất an và đầy thất vọng như là chính anh đang nhìn thấy sự tồi tệ của mình bấy lâu nay. Sáng hôm sau, Thomas đến gặp ông Fox như hẹn nhưng rồi anh đã không thể tấu lên bản nhạc mà anh và Mao Lin đã thật sự hài lòng. Bản chất của anh là gì? Ai sẽ là người giúp Thomas nhìn ra điều đó? Tình cha con Câu trả lời nằm ở cha của anh, Robert. Người đã buộc dây ắt hẳn phải là người tháo dây. Đây có lẽ cũng chính là điều làm nên khác biệt trong “Trái tim lỡ nhịp” bởi nó không chỉ là bộ phim về tình yêu với âm nhạc, về sự mong muốn chuyển biến trong cuộc đời, mà còn về tình cha con. Trở lại với đoạn mở màn, người ta thấy đạo diễn đã mất tới 3 phút đầu chỉ để Sami, một cộng sự của Thomas kể về mối quan hệ giữa hai cha con anh ta. Theo lời kể thì rõ ràng, mối quan hệ này giống như một vòng tròn lặp, dù thời trẻ họ đã làm gì thì khi về già, những người cha đều cần con cái để nương tựa, giúp đỡ, bỗng coi con như là một người bạn, làm việc gì cũng hỏi ý kiến của con. 3 phút ấy giống lời lý giải cho mối quan hệ của Robert và Thomas từ đầu đến cuối phim. Hơn hai tiếng đồng hồ, Robert chỉ xuất hiện bốn lần nhưng lần nào cũng như một cú giáng mạnh vào Thomas hoặc thay đổi cục diện cuộc đời anh.    Lần đầu tiên là khi Robert giới thiệu bạn gái mới với Thomas và ngỏ ý sẽ cưới cô ta. Ngay lập tức Thomas phản đối bằng cách nói với Cha rằng cô ả là một cô gái điếm dù anh hoàn toàn chưa chắc chắn. Nhưng sau đó, người ta hiểu Thomas nói vậy vì trong lòng anh vẫn luôn có Mẹ, không thể dễ dàng chấp nhận một người đàn bà nào khác. Rồi mãi về sau này, anh mới biết cha anh đã bỏ cô gái chỉ vì điều anh nói. Lần thứ hai là khi Thomas đã bắt đầu tập piano với Mao Lin và không muốn đánh nhau nữa thì Robert lại ép con phải đi đòi nợ cho mình khiến Thomas bị bỏng tay. Lần thứ ba là lúc Robert gọi con trong tuyệt vọng và Thomas tìm thấy cha trên phố với thương tích đầy mình. Thomas vô cùng đau đớn khi thấy cha đã già mà vẫn phải đòi nợ đám xã hội đen khác. Anh tìm tới gã Minskov, kẻ đã hành hung cha mình nhưng lại mắc sai lầm nghiêm trọng khi cố tình gạ gẫm người tình của gã và lại còn vô ý cho gã biết tên Robert. Chính Thomas đã đẩy mọi chuyện đi quá xa với sự háo thắng non nớt của mình, khiến Minskov sau đó đã đột nhập vào nhà và giết cha anh. Lần thứ tư Thomas gặp cha cũng là lúc đau đớn tột cùng nhất, là bước chuyển mạnh mẽ nhất trong cuộc đời anh. Nhìn thân xác cha nằm đó, Thomas nhận ra mình phải làm gì. Cha anh đã cho anh câu trả lời. Bộ phim tưởng như đã khép lại cùng một cái kết có hậu. Hai năm sau, Thomas và Mao Lin đến với nhau, Thomas trở thành người đại diện cho cô, sắp xếp và đưa cô tới những buổi công diễn piano trên khắp nước Pháp. Nhưng không thể để khán giả chờ đợi câu trả lời về Minskov, đạo diễn một lần nữa, lại để sự tình cờ đưa đẩy cho Thomas vô tình gặp hắn ngay trước buổi diễn của Mao Lin. Bao nhiêu uất ức dồn nén bấy lâu khiến Thomas túm lấy hắn, vật lộn với hắn và cuối cùng, giật được khẩu súng từ tay hắn, dí thẳng vào đầu hắn. Thế nhưng, cái thiện vẫn chiến thắng. Thomas đã không thể bóp cò. Bởi anh đã nhận ra anh là ai.       Thomas trở lại khán phòng, nơi Mao Lin đang say sưa đàn. Bàn tay trầy da rớm máu của anh gõ nhẹ trên đùi, đôi mắt mơ màng nhìn ngắm người con gái Việt đã đồng hành cùng anh với biết bao trầm bổng và đã cứu rỗi linh hồn anh ngay trước vũng lầy của tội ác.
    11/19/2021
    9:47
  • Tạp chí văn hóa - Tình khúc Christophe qua lời kể của các nữ tác giả
    Sinh thời, nam danh ca Christophe đã phát hành 17 album và gần 60 đĩa đơn, trong hơn nửa thế kỷ sự nghiệp. Một trong những giai đoạn ghi âm quan trọng nhất của nam danh ca người Pháp là những năm hợp tác (1971-1988) với nhà sản xuất Francis Dreyfus. Hầu hết các tình khúc ăn khách nhất của Christophe đều nằm trong thời kỳ này. Đầu thập niên 1970, sự nghiệp của Christophe trải qua một giai đoạn trống vắng, sau nhiều năm thành công rực rỡ với một loạt ca khúc ăn khách. Tiêu biểu nhất là những nhạc phẩm ''Aline'' 1965 (Gọi tên người yêu), ''Les Marionnettes'' 1966 (Những con múa rối), ''Les amoureux qui passent'' 1966 (Một thời để yêu), ''J'ai entendu la mer'' 1967 (Nghe tiếng sóng biển) hay ''La vie c'est une histoire d'amour'' (Tình Yêu Thiết Tha) ….. Đó cũng là thời điểm ca sĩ Christophe ngưng hợp tác với hãng đĩa Barclay để rồi ký hợp đồng ghi âm với hãng đĩa Motors do nhà sản xuất Francis Dreyfus thành lập. Trong số những tài năng trẻ làm việc chung với Christophe cho những dự án ghi âm mới, có nhạc sĩ Jean Michel Jarre (con trai của nhà soạn nhạc lừng danh Maurice Jarre, tác giả của nhạc phim ''Bác sĩ Jivago''). Vào thời bấy giờ, Jean Michel Jarre vẫn chưa nổi tiếng, anh chỉ lập kỷ lục số bán sau đó với album nhạc điện tử ‘‘Oxygène’’ vào năm 1976. Trong thời gian đầu, nhờ quan hệ hợp tác tốt đẹp mà cặp bài trùng này mới cho ra đời hai tác phẩm kinh điển : ‘‘Les Mots Bleus’’ (Những dòng chữ xanh) và ‘‘Les Paradis perdus’’ (Những thiên đường đã mất).   Cũng trong giai đoạn này, danh ca Christophe lần đầu tiên làm việc chung với các nữ tác giả, trong đó có Jacqueline Misrahi (thường lấy bút danh là Michaële) và nữ ca sĩ kiêm tác giả trẻ tuổi Léonie Lousseau, ban đầu thành danh trong làng nhạc Pháp nhờ hợp tác với nhạc sĩ Jean Claude Vannier, từ năm 1968 đến năm 1975. Cả hai tác giả này sau đó đều chuyển qua nghề sáng tác cho nhiều nghệ sĩ khác. Với bút danh Léonie, cô đã viết cho Christophe nhạc phẩm ‘‘Goodbye, je reviendrai’’ và nhất là tình khúc để đời ‘‘Main dans la main’’. Theo lời kể của tác giả Léonie Lousseau, cô gặp Christophe qua lời giới thiệu của tác giả Jean Claude Vannier, chuyên hoà âm cho các giọng ca ăn khách thời bấy giờ là Johnny Hallyday, Mike Brant và sau này ông sáng tác bản nhạc ăn khách nhất của Maurane (Sur une prélude de Bach). Khi gặp nhau, nam ca sĩ Christophe đã đánh đàn các khúc nhạc mà anh vừa sáng tác cho Léonie nghe. Cô cảm thấy rất ưng ý với giai điệu thứ nhì và chỉ cần chưa đầy mười phút cô chấp bút viết thành bài ‘‘Main dans la main’’. Thật ra, Léonie Lousseau đã viết ca khúc để mô tả tâm trạng đang yêu của chính bản thân mình (với nhà sản xuất Thierry Vincent). Thế nhưng, khi nghe qua, Christophe lại cảm thấy rất hứng thú như thể lời bài hát đã được viết cho riêng anh. Nhạc phẩm ‘‘Main dans la main’’ trở thành tình khúc của mùa hè năm 1972. Trong tiếng Việt, ca khúc này từng được tác giả Nam Lộc phóng tác thành nhạc phẩm ‘‘Cho quên thú đau thương’’. Nhờ thành công của nhạc phẩm ‘‘Main dans la main’’, Léonie Lousseau thu hút sự chú ý của nhiều nghệ sĩ khác, cô sau đó viết ca khúc cho các ca sĩ như Philippe Lavil và hợp tác với Mort Shuman, vào năm 1975 đặc biệt qua hai tình khúc ''So long John'' và ''L’autre Petit Prince''. Tuy nhiên, sau khi chia tay với người bạn đời và sau cái chết đột ngột của người em trai, Léonie dần dần xa lánh ánh đèn sân khấu, rồi cô giải nghệ hẳn từ giữa những năm 1980 trở đi. Hầu như vào cùng một thời điểm, nữ tác giả người Ý gốc Ai Cập Jacqueline Misrahi đã viết lời nhạc phẩm "Oh mon amour" cho nam danh ca Christophe, qua lời giới thiệu của bà Hélène Dreyfus. Trong làng nhạc Pháp, Jacqueline Misrahi là một  ngòi bút nổi tiếng, bà đã từng hợp tác với  rất nhiều ca sĩ Pháp (Enrico Macias, Sheila, Hervé Vilard, Claude François, Serge Lama, Gilbert Bécaud ....) rồi trở thành một tác giả sáng giá nhờ đặt lời cho tình khúc ''Paroles Paroles'' (Những lời mê hoặc) cho Dalida và Alain Delon. Còn về mặt giai điệu, bài hát "Oh mon amour" là của hai tác giả Olivier Toussaint và Paul de Senneville.  Sau giai đoạn hát nhạc trẻ xen kẻ những bản nhạc tình tha thiết (ướt át) với những điệu nhạc sôi động, nam danh ca Christophe vào đầu những năm 1970 bắt đầu thay đổi phong cách cũng như hình ảnh. Theo gợi ý của hai vợ chồng nhà sản xuất Hélène & Francis Dreyfus, Christophe trở thành một giọng ca chuyên hát nhạc trữ tình những với phong cách ''dandy'' nhiều hơn là ''crooner''. Một cách rất ngẫu nhiên mà có duyên, các nữ tác giả trong cách đặt lời ngọt ngào đường mật ấy đã giúp cho Christophe ngang nhiên bước vào thời hoàng kim, để rồi đánh cắp hàng triệu con tim.
    11/13/2021
    9:00

Sobre TẠP CHÍ VĂN HÓA

Website da estação

Ouve TẠP CHÍ VĂN HÓA, TẠP CHÍ ÂM NHẠC E várias outras estações de todo o mundo com a aplicação radio.net

TẠP CHÍ VĂN HÓA

TẠP CHÍ VĂN HÓA

Descarregue agora gratuitamente e ouve facilmente rádio e podcasts.

Google Play StoreApp Store

TẠP CHÍ VĂN HÓA: Podcast do grupo

TẠP CHÍ VĂN HÓA: Rádios do grupo

Information

Devido às restrições do seu browser, não é possível reproduzir directamente esta estação no nosso website.

No entanto, você pode tocar a estação aqui no nosso Popup-Player radio.net.

Radio